Dạy nghề phổ thông theo quan điểm giáo dục hướng nghiệp
Dạy- học môn Kỹ thuật (trước đây), môn Công Nghệ, Nghề phổ thông (hiện nay) và hoạt động lao động sản xuất là một trong 4 con đường hướng nghiệp cho học sinh phổ thông. Nó góp phần phát triển toàn diện nhân cách các em, là bước khởi đầu quan trọng của quá trình phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) ở mỗi địa phương và đất nước.
Vào những năm cuối thế kỷ XX, các nước châu Âu (Pháp, Đức, Ba Lan), châu á (Nhật Bản, Ôxtrâylia) và Liên bang Nga đã đặc biệt quan tâm đến việc dạy môn Kỹ thuật, Công nghề, giáo dục Nghề cho học sinh. ở Việt Nam, hướng nghiệp cũng mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc, phù hợp với từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ngày 19/3/1981, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 126/CP về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng học sinh các cấp trung học cơ sở (THCS) và phổ thông trung học tốt nghiệp ra trường. Quyết định 126/ CP đã khẳng định, công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông được tiến hành qua 4 con đường (4 hình thức): Dạy - học các môn văn hoá, dạy - học môn Kỹ thuật và hoạt động lao động sản xuất, qua các buổi sinh hoạt hướng nghiệp, qua các hoạt động ngoại khoá ở trong và ngoài nhà trường...Mục tiêu chung của hướng nghiệp là giúp học sinh định hướng chọn nghề sao cho vừa phù hợp với hứng thú, năng lực và hoàn cảnh cá nhân, vừa đáp ứng yêu cầu phát triển ngành nghề trong xã hội. Thực hiện nghị quyết này, công tác hướng nghiệp đã tạo ra một khí thế mới trong trường học. Nhiều trường đã có phòng hướng nghiệp, nhiều lớp đã có góc hướng nghiệp. Tại đó, các em có tư liệu để tìm hiểu các nghề ở địa phương, được giới thiệu về nghề và được tư vấn chọn nghề. Cũng trong những năm đó, các trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp (KTTH – HN) được tổ chức ở hàng trăm quận, huyện, thị xã. Không khí học kỹ thuật, thực hành lao động sản xuất và học nghề tại các trung tâm khá sôi động. Các trường phổ thông trung học vừa học vừa làm là nơi hưởng ứng mạnh mẽ nhất chủ trương đưa hướng nghiệp vào nhà trường. Cuối thập kỷ 80, do nhiều yếu tố khác nhau như: sự sút kém về đời sống, khủng hoảng kinh tế và lạm phát tiền tệ, đời sống người lao động bấp bênh v.v..., người dân không muốn con em mình đi vào một số nghề mà thu nhập quá thấp, lại không có viễn cảnh phát triển. Từ đó, dần dà trở thành một ý thức chạy đua vào đại học, cao đẳng (ĐH, CĐ). Xu thế tách rời học với hành, giáo dục với lao động sản xuất tăng lên. Vai trò của công tác hướng nghiệp dần dần bị coi nhẹ, việc học nghề phổ thông ít được quan tâm, nhiều trường học đã tự ý bỏ sinh hoạt hướng nghiệp. Từ những năm 1992 – 1993 trở đi, cuộc chạy đua trong thi cử nói chung, thi vào ĐH, CĐ nói riêng đã tạo nên một tâm trạng căng thẳng trong học sinh trung học phổ thông (THPT), kéo theo không ít những việc làm tiêu cực và hành động vi phạm chuẩn mực đạo đức và pháp luật. Đó là một trong những nguyên nhân dẫn hệ thống nhà trường phổ thông của chúng ta đến tình trạng lạc hậu so với nhà trường của những nước có nền công nghiệp phát triển. Nhiều nghị quyết của Đảng ta đã nói đến thực trạng này. Từ Đại hội lần thứ VIII (1996) đến Đại hội lần thứ IX (2001), Trung ương Đảng luôn nhấn mạnh đến tăng cường công tác hướng nghiệp, đẩy mạnh dạy nghề, song tình hình trường phổ thông chưa chuyển động là bao xét từ góc độ hướng nghiệp, chuẩn bị nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH. Khi xem xét, Đảng ta thấy rằng, công tác hướng ngihệp đặt ra trong quyết định 126/CP chỉ đáp ứng cho sự phát triển hệ thống nghề trong nền kinh tế tập trung theo cơ chế bao cấp, đã trở nên xa lạ với kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều đó lại càng rõ nét khi nền kinh tế này đang và sẽ phát triển trước bối cảnh hội nhập kinh tế và cạnh tranh trên thị trường quốc tế gia tăng, xu thế chuyển kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức đang trở thành hiện thực. Vì vậy, cần đặt lại công tác hướng nghiệp, dạy nghề phổ thông sao cho phù hợp nền kinh tế thị trường Việt Nam, theo hướng “đi tắt, đón đầu” của sự nghiệp CNH, HĐH, gắn việc chọn nghề của thanh niên với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động ở từng địa phương và trong cả nước... Quá trình vận hành nền kinh tế đó làm xuất hiện các nghề mới gần gũi với đời sống hiện đại trước đây chưa có. Việc dạy – học Nghề phổ thông giúp các em có được những thông tin ban đầu về một số nghề trong xã hội và thị trường lao động liên quan đến việc sáng tạo ra công nghệ mới, tiếp nhận và làm chủ công nghệ tiến tiến nhập của nước ngoài trong mọi lĩnh vực: Nông, Lâm, Ngư nghiệp, chế biến sau thu hoạch, Công nghệ thông tin, Viễn thông....Chính vì lẽ đó, thực hiện Nghị quyết lần thứ IX của Đảng, Nghị quyết 40/2000/QH10, ngày 9/12/2000 của Quốc hội khoá 10 và Chỉ thị 14/2001/ CT – TTg của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới Giáo dục phổ thông, Bộ trưởng Bộ GD & ĐT đã ban hành chỉ thi 33/2003/ CT – BGD & ĐT ngày 23/7/2003 về việc tăng cường giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông. Nội dung chỉ thị đề cập 6 vấn đề, trong đó nêu rõ: “Nâng cao chất lượng và mở rộng việc dạy nghề phổ thông để giúp học sinh tìm hiểu nghề, làm quen với một số kỹ năng lao động nghề nghiệp”. Chương trình một nghề mới được học của học sinh THCS là 90 tiết, THPT là 180 tiết. Như vậy, rõ ràng là dạy nghề cho học sinh phổ thông là nhằm cung cung cấp cho các em về những ý niệm, những thông tin ban ban đầu về một số nghề hoặc một số nhóm nghề cụ thể gần gũi với các em và phù hợp với xu thế thế giới trong hoàn cảnh hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, giúp các em có thêm thông tin, tự mình định hướng việc chọn ngành nghề phù hợp với năng lực bản thân, hoàn cảnh gia đình và nhu cầu xã hội để được đào tạo, trở lại phục vụ chính mình và đáp ứng nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH quê hương, đất nước. Với ý nghĩa đó, để khuyến khích các em học nghề hướng nghiệp, ngoài việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức bằng nhiều hình thức khác nhau, Bộ GD & ĐT đã thực hiện chính sách ưu tiên khi xét tốt nghiệp THPT, THCS và xét tuyển vào lớp 10 THPT (từ 0,5 – 1,5 điểm cho kỳ tuyển sinh lớp 10, từ 1- 2 điểm cho kỳ xét tốt nghiệp các cấp, tuỳ theo kết quả thi nghề của học sinh được xếp loại trung bình, khá hay giỏi). Tuy nhiên, ngành GD & ĐT Hà Tĩnh thực hiện việc dạy nghề phổ thông trong điều kiện hết sức khó khăn. Đội ngũ giáo viên được đào tạo cơ bản từ các trường Đại học sư phạm chuyên ngành kỹ thuật cực kỳ ít ỏi so với nhu cầu học nghề của học sinh. Nhiều giáo viên trung tâm KTTH – HN các huyện, thị xã được UBND cùng cấp điều chuyển sang làm nhiệm vụ giảng dạy ở các trung tâm mà không qua trường lớp đào tạo kỹ thuật hay sư phạm nào. Dần dần, do yêu cầu công việc, họ mới đi học ĐH, CĐ hệ chuyên tu, tại chức, do đó không đáp ứng được yêu cầu dạy nghề theo quan điểm đổi mới giáo dục phổ thông. ở các trường phổ thông, giáo viên dạy nghề chủ yếu là kiêm nhiệm (đây là thực trạng chung ở nhiều tỉnh, thành phố).Với học sinh THCS, nhiều nội dung kiến thức cơ bản ở môn Nghề phổ thông trước đây được tích hợp vào môn Công Nghệ theo chương trình mới nên đầu năm học 2005 – 2006, Bộ GD & ĐT có ý định giảm tải (không học) môn Nghề phổ thông ở cấp THCS. Năm học 2006 – 2007, Nghề phổ thông lại được xem là một trong những môn học tự chọn cho học sinh THCS nên số em đăng ký học nghề giảm nhiều so với trước đây. Phòng học, thiết bị dạy học các tiết thực hành các môn Nghề hết sức thiếu thốn (2/3 số tiết trong một chương trình nghề là thực hành). Ngân sách cấp cho hoạt động này từ các địa phương hầu như không có. Tuy nhiên, những năm gần đây, Sở GD & ĐT Hà Tĩnh luôn chỉ đạo các trung tâm KTTH – HN, các nhà trường khắc phục mọi khó khăn để tạo mọi điều kiện cho những học sinh có nguyện vọng được học nghề phổ thông với mục đích hướng nghiệp. UBND Tỉnh đã tuyển dụng những sinh viên mới được đào tạo từ những trường ĐH, CĐ sư phạm kỹ thuật, trường đào tạo giáo viên dạy nghề về các trường hoặc trung tâm KTTH – HN giảng dạy. Các cơ sở giáo dục chọn, cử những giáo viên có chuyên môn đào tạo gần với nghề phổ thông tham gia dạy nghề phổ thông (giáo viên Vật lý, Kỹ thuật Công Nghiệp dạy nghề Điện dân dung, giáo viên Sinh vật, Kỹ thuật Nông nghiệp dạy nghề Làm Vườn, Lâm Sinh, Trồng Lúa, Chăn nuôi gia cầm. Thú y, Bảo vệ thực vật. Ngoài ra, Sở còn hợp đồng những người tốt nghiệp các trường, lớp Trung cấp hoặc Cao đẳng Công nghệ Dệt may & Thời trang hoặc thợ Cắt May lành nghề dạy nghề Cắt May...). Một tỷ lệ ngân sách hợp lý (xấp xỉ 35 %) được trích từ nguồn học phí học nghề theo quyết định của UBND Tỉnh (45.000 đ/ khoá với học sinh THCS, 90.000 đ/ khoá học với học sinh THPT) để mua những thiết bị dạy học cơ bản nhất phục vụ thực hành. Ngoài ra, Sở còn yêu cầu các cơ sở giáo dục vận động học sinh, giáo viên tự làm thiết bị dạy học, sưu tầm, tìm kiếm những dụng cụ điện gia đình đã qua sử dụng làm đồ dụng dạy học. Tăng cường chỉ đạo và kiểm tra việc dạy, học thực hành. Nền nếp dạy, học, tổ chức các kỳ thi được chỉ đạo nghiêm túc theo quy định của Bộ GD & ĐT. Chỉ có những em thực hiện nghiêm túc những quy định về học nghề mới được dự thi. Sở chỉ đạo các trung tâm tổ chức việc thi, xét và cấp giấy chứng nhận (chứng chỉ) nghề phổ thông nghiêm túc theo văn bản hướng dẫn của Bộ GD & ĐT. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, vẫn còn tình trạng một số ít giáo viên tinh thần trách nhiệm chưa cao, học sinh học nghề ý thức tổ chức kỷ luật yếu kém: tự ý bỏ học hoặc tham gia học không đầy đủ, không tuân thủ hướng dẫn của giáo viên về việc tự mua sắm, tìm tòi những thiết bị thực hành rẻ tiền, dễ kiếm để học tập. Dĩ nhiên, số học sinh này, “trong suốt quá trình học không biết máy móc, thiết bị “đầu cua tai nheo” ra sao là điều dễ hiểu. Mỗi năm có hàng chục nghìn học sinh THCS, THPT đăng ký học nghề, nhưng có hàng trăm em (thường rơi vào những đối tượng trên) không đủ điều kiện dự thi, các trung tâm kiên quyết không cho dự thi, hàng trăm em dự thi nhưng không trúng tuyển, không được cấp giấy chứng nhận. Năm học 2004 – 2005: toàn tỉnh có 54.707/ 57.925 em học nghề đăng ký dự thi, 53.791 em được dự thi, 53.487 em trúng tuyển (đạt 99,42 %), trong đó loại giỏi 20,2 % (THCS 18,15 %, THPT 22,86 %), loại khá 45,13 %. Năm học 2005 – 2006 có 35.704 em đăng ký dự thi, 35.068 em được dự thi, 34.894 em trúng tuyển (đạt 99,5 %) trong đó có 23,02 % loại giỏi (THCS 15,39 %, THPT 26,68 %), loại khá 42,59 %. Do cấp uỷ Đảng, chính quyền các địa phương chưa làm tốt công tác xã hội hoá hoạt động giáo dục hướng nghiệp, trong đó có tuyên truyền về giáo dục Nghề phổ thông, một số người đã hiểu không đầy đủ, không cặn kẽ về việc học nghề hướng nghiệp này mà đòi hỏi rằng “học sinh học nghề trong trường THCS, THPT ra là phải có thể hành nghề ngay”, “học sinh có chứng chỉ nghề Điện dân dụng loại giỏi phải sửa chữa máy móc, dụng cụ...”được ngay là hoàn toàn không đúng với với tinh thần dạy nghề hướng nghiệp của Đảng. Phải thừa nhận rằng, trên nền kiến thức nghề phổ thông của từng môn, một học sinh có năng lực học văn hoá từ trung bình khá trở xuống, nếu được nhà trường, gia đình, các đoàn thể trong trường và các tổ chức xã hội ở địa phương tư vấn hướng nghiệp tốt, học sinh đó có thể tham gia một khoá đào tạo cùng nghề ấy dài hạn từ 2- 3 năm tại một cơ sở dạy nghề hoặc một trường Trung cấp chuyên nghiệp (TCCN) thì rất thuận lợi cho việc tiếp thu của học sinh, lại có thêm một thợ kỹ thuật bậc cao phục vụ sự phát triển ngành nghề của địa phương, đất nước. Làm được điều đó cũng có nghĩa là chúng ta góp phần thực hiện mục tiêu phổ cập bậc trung học của Tỉnh vào năm 2009. Các cấp quản lý giáo dục cần phải nghiêm túc thực hiện chỉ đạo của Sở về triển khai nhiệm vụ Giáo dục Hướng nghiệp, trong đó có dạy nghề phổ thông. Nâng cao trách nhiệm của cấp uỷ, chính quyền các địa phương trong việc tuyên truyền, tư vấn hướng nghiệp cho học sinh sau khi tốt nghiệp THCS, THPT là hết sức cần thiết, phải làm cho hướng nghiệp trở thành nhiệm vụ của toàn xã hội; trong đó nhà trường phổ thông đóng vai trò nồng cốt. Đồng thời, các huyện, thị xã tập trung củng cố toàn diện các trung tâm KTTH – HN, xây dựng các trường dạy nghề, các trung tâm dạy nghề cấp huyện, thị, Tỉnh đầu tư mạnh vào các trường TCCN, trường đào tạo nghề của tỉnh theo tinh thần chỉ thị 33 nói trên là hết sức quan trọng, cấp bách để đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực cho xã hội, trước mắt là phục vụ mục tiêu phổ cập bậc trung học của địa phương. .Phan Đình Lai - Trưởng phòng GDCN, Sở GD&ĐT hà Tĩnh
|