Qua miền Tây bắc
"Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ Nơi nao qua, lòng lại chẳng yêu thương ?" Chế Lan Viên Ghi chép của Nguyễn Văn Quang - Phó phòng GDCN, Sở GD&ĐT Hà Tĩnh
Những ngày đầu tháng 12 năm 2008, thực hiện nhiệm vụ đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh:" Hệ thống Trung tâm học tập cộng đồng Hà Tĩnh - Thực trạng và giải pháp" do NGƯT Nguyễn Khắc Hào - TUV - Giám đốc Sở làm chủ nhiệm, nhóm nghiên cứu Sở GD&ĐT Hà Tĩnh trong niềm hân hoan, phấn khích bắt đầu cuộc hành trình Qua miền Tây Bắc.
Nói phấn khích hân hoan là bởi, đoàn có đến 15 người thì duy nhất chỉ có thầy Nguyễn Xuân Trường là người xưa cũ, nay "thăm lại chiến trường xưa", nơi thời trai trẻ từng tám năm gắn bó, cũng là dịp về thăm gia đình ông bà bên ngoại ở Thành phố Sơn La... 14 người còn lại, hầu hết mới lên "Xứ thiêng liêng rừng núi đã anh hùng" lần đầu. Háo hức muốn đi, muốn đến Tây Bắc còn vì sức hấp dẫn của chính vùng đất này. Trong hiểu biết chung của mỗi chúng tôi, Tây Bắc là cái nôi thiêng liêng của cách mạng, nổi tiếng với nhiều địa danh lịch sử mà mỗi tên đất, tên làng đều vang lên niềm tự hào về những chiến công hiển hách, nhất là trong cách mạng tháng Tám và thời kỳ kháng chiến.... Không ai là không biết về điều kiện tự nhiên rất độc đáo nơi đây: một miền núi cao hiểm trở, các dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, trong đó có dãy Hoàng Liên Sơn dài đến 180 km, rộng 30 km, cao từ 1500m trở lên; nằm trong vòng đai nhiệt đới gió mùa, nhưng do ở độ cao từ 800-3000m nên khí hậu ngả sang á nhiệt đới và nhiều nơi cao như Sìn Hồ có cả khí hậu ôn đới; địa hình lại chia cắt bởi các dãy núi, dòng sông, khe suối, tạo nên những thung lũng, có nơi lớn thành lòng chảo như vùng Nghĩa Lộ, Điện Biên...; là nơi có nhiều tiểu vùng khí hậu. Thiên nhiên Tây Bắc đa dạng, thổ nhưỡng nhiều loại hình, nhiều cao nguyên quanh năm mát mẻ; có tiềm năng lớn về du lịch và thuỷ điện. Đây còn là một giải biên cương, phên trấn quan trọng của tổ quốc, địa bàn cư trú của phần lớn đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta như Thái, Mường, Dao, Mông, Kháng, Mảng, La Ha, Khơ Mú... Chính họ là chủ nhân sáng tạo, lưu truyền và phát triển một nền văn hoá truyền thống đặc sắc với nhiều phong tục lễ hội đậm sắc màu; là xứ sở hoa ban, quê hương xoè hoa, miền đất dịu ngọt của những thiên tình sử Tiễn dặn người yêu, Lễ hội Cầu phúc, Cầu mùa, Tung còn tìm bạn... Từ Hà Nội, theo Quốc lộ 6 chúng tôi lên đường đi Tây Bắc. Điểm dừng chân đầu tiên là Công trình Thuỷ điện Hoà Bình. Đoàn dâng hương tại Đài Tưởng niệm cán bộ, kỷ sư, công nhân của hai nước Việt - Xô đã ngã xuống tại công trình vĩ đại này. Tự hào và cảm động, Hà Tĩnh có 3 người con ưu tú mà tên tuổi được khắc ghi trong số 168 anh hùng liệt sĩ đã hy sinh cho một công trình đầy gian khó song rất đỗi vinh quang. Lần đầu tiên được thực mục sở thị, tiếng loa cầm tay của người hướng dẫn viên thuyết minh vang lên theo bước chân du khách, dọc đường hầm vào các tổ máy phát điện, mỗi chúng tôi đều dấy lên cảm xúc tự hào và biết ơn ... Thuỷ điện Hoà Bình hoàn thành, đưa đủ 8 tổ máy với Tổng công suất lắp máy 1.920 MW vào vận hành và điện lượng sản xuất trung bình hàng năm 8,16 tỷ kWh, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế Việt Nam ở mức độ cao trong hơn 20 năm đổi mới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đây là công trình xây dựng có cơ sở vật chất kỹ thuật lớn nhất ở Việt Nam trong thế kỷ XX, là biểu tượng của sức mạnh dời non lấp bể, đạp bằng mọi chông gai của toàn Đảng, toàn dân chinh phục sự "hung bạo" của sông Đà trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là biểu tượng của tình hữu nghị bền vững và hợp tác thành công giữa Việt Nam và Liên Xô cũ... Rời Thuỷ điện Hoà Bình, đoàn lên đường đi Sơn La... Bắt đầu chặng đường đèo dốc, đường đi khá rộng, có thể gọi là đại lộ êm và đẹp, nằm ngoài sự phán đoán trước khi xuất phát. Xế trưa, ánh nắng nhẹ thưa trải dài từng vạt trên những dãy đồi, hắt xuống những thung lũng hai bên sườn núi. Thỉnh thoảng, thầy Trường trong vai dẫn đường kiêm "hướng dẫn viên du lịch" giới thiệu về những địa danh, những đặc sản khá hấp dẫn của những nơi đã qua. em Huy - lái xe mở đĩa hát các ca khúc về Sơn la. Rất tự nhiên, mỗi chúng tôi đều hát theo bài Chiều Bắc Yên, mà trước khi đi, đoàn đã nhắm để làm "vốn liếng" cho cuộc giao lưu văn nghệ với Sơ La. Trong khá nhiều ca khúc, Chiều Bắc Yên có lẽ là phù hợp nhất; là một "Sơn La ca" dễ hát, dễ thuộc đối với những "ca sĩ không chuyên"; Thú vị nhất là những "lão tướng" như nhà giáo Hoàng Phúc, Trần Đình Sửu, Nguyễn Tấn, Nguyễn Duy Tiệp, Nguyễn Xuân Trường, Đoàn Nhật Tiến, Lê Văn Thuyết, Dương Thị Mỹ Hạnh, Nguyễn Hữu Sum ... đều nhập cuộc một cách hồn nhiên, sôi nổi... Đoàn dừng lại tại Quán 64 thuộc địa phận Mộc Châu. Buổi chiều đông mát lạnh đang tới, có cảm giác như gặp lại những sáng thu giữa bầu trời Hà Nội; không phải cái giá lạnh ướt át của gió mùa đông bắc đang thổi mà là cái lạnh se, khô khô, khơi gợi biết mấy nỗi niềm. Đây là bữa cơm đậm đà hương vị của Tây Bắc đầu tiên mà chúng tôi thưởng thức; làm sao có thể thể quên được những sản vật độc đáo, nhiều hương sắc nơi đây; một chút trải nghiệm, đã khiến cái "máu xê dịch" được kích thích. Cả đoàn lại tiếp tục lên đường... Đi sâu vào địa phận cao nguyên Mộc Châu, phóng tầm mắt quan sát, ta cảm nhận vẻ đẹp kỳ thú của thiên nhiên miền Tây. Thảo nguyên xanh tươi, đồng mía, nương ngô, đồi chè, đồi sắn mênh mông một màu xanh biếc, toát lên vẻ đẹp về sự no đủ, an lành. Thỉnh thoảng, đâu đó bên những sườn núi chênh vênh rợp bóng cây xanh, trong thung lũng sâu hay bên những dòng suối xa tuôn chảy là những bản làng của đồng bào các dân tộc... Về chiều, trên đường lác đác xuất hiện dáng hình thôn nữ vùng sơn cước. Thoáng nhìn trang phục, ta đoán được nét hoa văn trên váy áo người Mường, người Thái... Họ lần theo vách để xuống núi với dáng vẻ khoan thai, chắc chắn... Thầy Thuyết - người mà cùng với Thầy Phúc, Thầy Tiến bằng những chuyện cười đặc sắc đã xua tan cảm giác mệt nhọc cho đoàn trong suốt cuộc hành trình lại cất lên lời bài hát "Ơi em gái bản xa mặc váy hoa em xuống chợ về - ngọt tiếng đàn môi réo rắt... để lòng anh bâng khuâng trong chiều..." Khoảng 15h30, chúng tôi đến Thành phố sơn La. Đại lộ khá dài và sạch đẹp. Hai bên đường cờ hoa biểu ngữ tung bay phấp phới, thể hiện sự náo nhiệt, tưng bừng của sự kiện lịch sử trọng đại vừa trải qua. Ngày 26 tháng 10 năm 2008, Thị xã Sơn La chính thức nâng cấp lên Thành phố Sơn La... Thầy Cầm Văn Thịnh - Trưởng phòng GDTX - Sở GD&ĐT Sơn La - người giữ liên lạc với Hà Tĩnh suốt cuộc hành trình đón và hướng dẫn đoàn về Cơ quan Văn phòng Sở. Gặp nhau "tay bắt mặt mừng", sau ít phút chào hỏi và trao đổi lịch trình, chúng tôi về nghỉ tại Khách sạn Hương Sen II ở trung tâm thành phố...19h00 Sở GD&ĐT Sơn La tổ chức tiếp đoàn tại Bản Moòng thuộc xã Hua La, cách trung tâm thành phố khoảng 5 km. Khí hậu ở đây có nhiều nét độc đáo. Ban đêm nhiệt độ đột ngột hạ xuống so với ban ngày khoảng 4-50c; lúc này mới cảm nhận được cái rét ngọt lan toả, trùm lên cả một không gian rộng lớn. Dường như để cân lại, chọi lại với cái buốt lạnh của màn sương đêm, thiên nhiên đã ban tặng nơi đây những mạch ngầm ấm áp. Suối nước nóng ở đây tinh khiết và cũng rất trái ngược: tiết trời càng lạnh, dòng suối trong càng nóng, tạo nên một sự hài hoà cuốn hút. Đặc biệt hơn là bếp lửa đồng bào, dưới nếp nhà sàn đơn sơ, chủ và khách quây quần bên bếp lửa rực hồng, chuyện trò trao đổi; mùi lên khói của cơm lam, lợn bản, gà rừng nướng.... quyện vào nhau, toả quanh ngôi nhà sàn giữa bản. Bếp lửa có sức cuốn hút lạ kỳ. Có phải khi thấy lạnh, con người ta xích lại gần nhau hơn chăng ? Không còn khoảng cách, thay vì cảm giác buốt lạnh là sự nồng nàn ấm áp, gần gũi thân quen; sau một lần nâng cốc chạm ly, bàn tay lại nắm chặt bàn tay... Làm sao có thể nói hết những giây phút được gặp, được giao lưu ở một không gian và thời điểm đặc biệt như vậy... Về nơi nghỉ, chúng tôi dành thời gian tập họp tại phòng đồng chí trưởng đoàn để lên "kế hoạch tác chiến" cho ngày mai. Nội dung được trưởng đoàn vạch ra, chỉ đạo rất cụ thể, khoa học. Nào là, phải tiết kiệm thời gian để đi được nhiều nơi tiên tiến, đến với những điển hình tiên tiến, đến với những địa danh giàu ý nghĩa... Nào là, phải chọn những tiết mục văn nghệ tập thể, cá nhân đặc sắc, thể hiện lòng chân tình, ân nghĩa mà hào hoa của người Hà Tĩnh, đáp lại chữ tâm trong sáng của người Sơn La trong buổi giao lưu văn nghệ tối mai... Đêm đã về khuya, phố núi chìm dần vào giấc ngủ, không gian bên ngoài tĩnh lặng yên bình. Chúng tôi cùng tập với trưởng đoàn bài Chiều Bắc Yên. Lần đầu tiếp cận bài hát, nhờ có chút năng khiếu và nhạc cảm khá tốt, trưởng đoàn nhanh chóng làm chủ được tác phẩm. Thầy Hào cũng chọn lựa, tập lại một vài tiết mục cho riêng mình... Như không tự giác, hình ảnh và việc làm của thầy giáo trưởng đoàn, tác động mạnh đến trách nhiệm và tình cảm của mỗi thành viên suốt cả chuyến đi... Sáng hôm sau chúng tôi làm việc tại Phòng GD-ĐT huyện Mường La. Cùng đi có đồng chí Phạm Đăng Quang - Phó Giám đốc Sở, đồng chí "Phóng Văn Phò" (cách nói lái thân quen - Phó Văn Phòng mà người Sơn La đã giới thiệu) và mốt số cán bộ chuyên viên Sở... Mường La có trên 72.000 dân, chủ yếu là dân tộc Thái, Mông, La Ha... Toàn huyện có 15 xã, một thị trấn, trong đó 12/16 xã, thị trấn đã có điện lưới quốc gia. Phòng GD-ĐT nằm chênh vênh trên triền núi, vài dãy nhà cấp 4, bàn ghế quá đơn sơ. Nhìn cơ ngơi, chúng tôi có thể đoán biết được phần nào những khó khăn mà giáo dục Mường La phải đối mặt ... Đúng vậy ! Ở Mường La, vào mùa giáp hạt, mỗi học sinh người dân tộc thiểu số được tỉnh hỗ trợ 120.000 đồng để đến trường. Nhưng các em vẫn bỏ học. Cô giáo Cầm Thị Liên - Phó trưởng phòng tâm sự: với một huyện 95% học sinh là người dân tộc thiểu số thì đến mùa phát nương, học sinh bỏ học theo gia đình đi làm rẫy là chuyện không tránh khỏi. Ngành giáo dục đã giao cho giáo viên trách nhiệm rất nặng nề: để học sinh nghỉ học thì lỗi đầu tiên thuộc về giáo viên. Cho nên, đầu năm các thầy cô nhận “khoán” vừa phải chống ngồi nhầm lớp, vừa thực hiện tốt “Hai không” nhưng vẫn phải giữ được sĩ số lớp. Mỗi năm ở Mường La xét lên lớp làm 3 đợt, học sinh học hết chương trình của lớp nào thì được xét lên lớp mới. Cũng vì "nhận khoán", người trong vùng cũng không còn lạ khi thấy cảnh có những cô giáo đưa các em đến trường mà nước mắt lưng tròng vì tủi thân, thương cho nghề giáo sao mà lặn lội và quá vất vả đến thế. Có những xã như Mường Bú thuộc địa phận Mường La - giáp thủy điện Sơn La (đóng trên địa bàn xã Tạ Bú) với trên 10.000 dân thuộc sáu dân tộc: Kinh, Thái, Mông, La Ha, Mường, Xá; cách thành phố Sơn La 22km và cách trung tâm thị trấn Mường La 20km, cả xã có 29 bản và ba tiểu khu. Mường Bú có ba bản thuộc diện tái định cư của thủy điện Sơn La là: bản Huổi, bản Sang và Phiêng Bủng. Địa bàn rộng, phức tạp, tình trạng mù chữ chiếm tỉ lệ cao vv... Dọc theo hành trình, thỉnh thoảng lại xuất hiện một địa chỉ: Trung tâm Học tập cộng đồng Bản ... Xã... Tiểu khu ... được xây dựng khá khang trang... Sơn La được công nhận hoàn thành PCTHCS năm 2007 là nhờ có sự nổ lực chung của toàn ngành và sự đóng góp xứng đáng của các TTHTCĐ trên địa bàn toàn tỉnh... Giới thiệu, đặt vấn đề, trao quà và chụp ảnh lưu niệm, nghe báo cáo vắn tắt, thu thập tài liệu, đi tham quan thực tế là những công việc mà đoàn tiến hành đối với những nơi đến ở Mường La. Tất cả đều khẩn trương, khoa học, ấn tượng và hiệu quả... Khẩn trương cũng phải, không thể bỏ lỡ cơ hội tham quan Thuỷ điện Sơn La. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên thú vị: cùng ngày, đoàn của Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết lên thăm và kiểm tra tiến độ xây dựng công trình. Vì lý do an ninh, các đoàn khác không được vào. Phải giỏi sắp xếp, chúng tôi mới có một khoảng thời gian quý hiếm để in dấu chân lên đại công trình thuỷ điện lớn nhất Đông Nam Á này. Thủy điện Sơn La có tổng công suất thiết kế 2.400 MW, tổng vốn đầu tư 38.000 tỷ đồng (18.000 tỷ đồng dành cho xây lắp, 20.000 tỷ đồng dành cho di dân, tái định cư...). Dự kiến sau khi đi vào hoạt động, tần suất phát điện hằng năm của nhà máy sẽ là 1,2 tỷ Kw/giờ. Lên đây mắt thấy, tai nghe: nếu đập thủy điện Sơn La vỡ, một chiếc xe tăng 40 tấn ở tận Sơn Tây cũng bị cuốn trôi phăng phăng...; nếu không có thủy điện Sơn La...; nếu có thủy điện Sơn La...; những câu chuyện xung quanh thủy điện đang được xây dựng ở cuối trời Tây Bắc… Mừng cho tiềm năng của Sơn La, mừng vì tiềm năng của đất nước mình... Hòn ngọc của Tây Bắc đã, đang và sẽ toả sáng... Chụp xong hình lưu niệm, đoàn xuôi về thành phố. Mỗi người đều trầm trồ thán phục chuyện Mường La làm giáo dục, làm thuỷ điện; những so sánh giữa thuỷ điện Hoà Bình với thuỷ điện Sơn La, chuyện vùng 135 của Hà Tĩnh với miền núi Sơn La... Hai bên đường vẫn bạt ngàn đồi núi. Những bông lau xám bạc phất phơ bên bờ suối; những cánh hoa rừng chòng chành đong đưa trôi trên dòng nước Sông Đà; hoa Cúc Quỳ rải những thảm dài vàng rực; rừng vầu, rừng tre nứa như cố vươn lên thể hiện sức sống trường tồn... Tất cả như dấu mình trong một câu chuyện cổ tích đầy bí ẩn về núi rừng miền Tây mà con người ta chưa dễ gì khám phá hết được... Tôi cố nhìn theo dòng sông cuộn chảy. Mùa này, dòng sông lừ lừ bầm đỏ như vừa chở nặng phù sa, vừa như mang dáng vẻ tức tưởi vì bị con người nắn dòng để làm thuỷ điện... Nhìn lên phía thượng nguồn, giống đoạn ở Hoà Bình, dòng sông mặt nước mờ xanh, tuôn dài, tuôn dài như một dải lụa ngoằn ngèo vắt trên cơ thể núi non đất nước. Nghỉ trưa bên Bản Hua Ít, nơi có suối nước nóng như ở Bản Moòng. Cả đoàn ngâm mình thư giản. Thật sảng khoái! Chỉ tiếc thời gian hữu hạn. Tôi thầm suýt soa... Vẫn hồn nhiên đôn hậu, vẫn cởi mở chân tình, Phòng GD-ĐT Mường La đãi khách nồng nhiệt chẳng kém... Buổi chiều, đoàn thăm và làm việc tại Phòng GD-ĐT Thành phố Sơn La. Sau phát biểu của ông Lò Lương Bình - Phó Chủ Tịch HĐND Thành phố và cô giáo Đoàn Thị Kim Xuyến - Trưởng phòng, chúng tôi tham quan, trao đổi tại Phường Chiềng An. Báo cáo về hoạt đồng của TTHTCĐ Phường Chiềng An do chị Lò Thị Tươi - Phó Chủ tịch HĐND Phường trình bày thực sự cuốn hút ngay từ phần mở đầu... Từ nhận thức quan điểm, đến chủ trương giải pháp vượt qua khó khăn, tổ chức thực hiện, kết quả rõ nét và những bài học kinh nghiệm đã được trình bày logic, chặt chẽ với đầy đủ luận cứ và luận chứng. Chị như một nhà truyền giáo đang truyền dạy kinh nghiệm về việc xây dựng và tổ chức hoạt động của TTHTCĐ cho người nghe; lời lẽ lớp lang, giọng biện thuyết nhiệt tình, nồng nàn trách nhiệm, đầy lôi cuốn... Sau tiếng hoan hô khích lệ, là những lời cảm nhận và thán phục chân thành của đồng chí trưởng đoàn Hà Tĩnh. Chị Tươi quả là người đã gây một ấn tượng đậm đà, không dễ gì quên được. Ai cũng muốn được chụp hình kỷ niệm với chị ở TTHTCĐ Chiềng An... Chị Xuyến, chị Tươi dẫn đoàn đến tham quan Bản Cọ. Một ấn tượng bất ngờ nữa, nữ Trưởng bản người Thái giới thiệu mô hình học tập, sản xuất, sinh hoạt văn hoá rất "cộng đồng" của bản. Tham quan mô hình chăn nuôi, trồng hoa, cây cảnh, nghe dự định về sự chuyển dịch kinh tế nhiều triển vọng của bản trong tương lai... Tất cả đều xoay quanh trục TTHTCĐ đã nói, chúng tôi ngỡ như đang được những hướng dẫn viên du lịch duyên dáng, có nghề, giới thiệu tại một danh lam thắng tích nổi tiếng... Thành phố còn muốn giới thiệu một số mô hình khác ở các bản, vì thời gian, chúng tôi cảm ơn và rời Bản Cọ để về làm việc với Sở Sơn La. NGƯT Cầm Thị Kiểu - TUV - Giám đốc Sở cùng lãnh đạo, cán bộ chuyên viên Cơ quan Văn phòng tiếp đoàn Hà Tĩnh trong bầu không khí chân tình cởi mở, thắm tình đồng chí, đồng nghiệp. Hai Sở thông báo khái quát tình hình giáo dục của mỗi tỉnh... Những thành tích rõ nét được ghi nhận, những khó khăn cùng được sẽ chia, những dự định cùng được đồng cảm... Thế mới biết, ngôi nhà giáo dục chúng ta rộng lớn biết nhường nào... Cuốn vào công việc, màn đêm lan toả xuống thành phố lúc nào không biết. Sở Sơn La tổ chức mời cơm và giao lưu văn nghệ ở Bản Tông thuộc xã Chiềng Xôm ngoại ô thành phố. Cả đoàn hối hả lên xe vào bản. Đường lên bản quanh co, gập gềnh, trời tối càng khó đi, lại thêm giá sương buốt lạnh, se sắt. Chứng kiến lòng nhiệt thành mời rượu của bạn qua mấy lần tiếp xúc, trong đoàn có người hơn ái ngại... Nhưng khi ánh sáng hắt ra từ bếp lửa hồng ấm áp, ngọn điện toả sáng từ Nhà văn hoá bản cứ hiện dần, rõ dần đã xua tan sự do dự của ai đó trong đoàn... Một cảnh tượng đông vui, xúm xít đập vào cảm giác. Đủ các thành phần: có lãnh đạo Đảng, chính quyền, mặt trận thành phố, có Bí thư, có Trưởng bản, có chủ nhà, có đồng bào Thái, có đội văn nghệ của bản Tông rất chuyên nghiệp... Mâm cỗ được bày sẵn trên nền nhà sàn, mùi thơm nếp xôi lan toả, tiếng mời khách dịu dàng vồn vả và cả nụ cười tình tứ của các sơn nữ cứ bao bọc chúng tôi trong một không khí êm đềm mơ mộng, cuốn mọi người vào không gian văn hoá ẩm thực độc đáo nơi đây từ phút ban đầu. Thỉnh thoảng, chủ lại đến bên bàn xin được mời khách chén rượu theo kiểu "Sơn La cao". Thật thân tình và lãng mạn. Văn hoá ẩm thực ở đây có sức hấp dẫn lạ lùng. Không một ai có thể chối từ... Khoảng 20h30 đêm giao lưu văn nghệ bắt đầu. Sở Sơn La đã chuẩn bị một chương trình đậm sắc màu truyền thống. Có đủ các tiết mục phong phú được dàn dựng công phu. Từ kết cấu đến trang phục, nhạc công, âm thanh, ánh sáng và cách trình diễn đều phát lộ phẩm chất nghệ thuật cao mà một đoàn văn nghệ quần chúng của một tỉnh nào đó khó bề sánh kịp... Hà Tĩnh mở đầu bằng Hợp ca Chiều Bắc Yên rất ấn tượng. Chính bạn cũng cảm thấy bất ngờ. Từ đồng chí trưởng đoàn đến các anh lái xe, tất cả đều hoá thân vào vai trò của những "ca sĩ" trong một bầu không khí náo nức âm thanh, rộn rã tiếng cười, tiếng vỗ tay nồng nhiệt. Đoàn Sơn La đáp lại bằng "Đi mô cũng nhớ về Hà Tĩnh". Bất ngờ nhất là tiết mục của trưởng đoàn Hà Tĩnh. Dự kiến lúc đầu là "Bài ca trên núi" nhưng lúc đó Thầy lại thể hiện "Em chọn lối này". Đúng là một sự chọn lựa hợp bối cảnh, cũng ráo riết, quyết liệt và tình tứ không kém: Em đây chọn lối này thôi... Chúng tôi đã "Mời anh về Hà Tĩnh" để thăm một vùng địa linh nhân kiệt với 99 đỉnh non Hồng soi bóng dòng La dào dạt sóng dân ca; để nghe câu ví đò đưa ngọt ngào sâu lắng và thấy người dân quê tôi ngàn năm khó nhọc mà câu nghĩa tình vẫn vẹn như xưa... Đêm giao lưu được khép lại bằng những lời giã bạn tình tứ. Bên chum rượu cần nồng ấm Hà Tĩnh, Sơn La siết chặt tay nhau trong những điệu nhảy, lời ca giã biệt... 23h00 đoàn rời bản Tông, những sơn nữ trong trang phục dân tộc nối thành từng hàng dài, e ấp, thấp thoáng trong màn đêm, đưa tay vẫy chào và hẹn ngày gặp lại... Mỗi chúng tôi đều dấy lên những cảm xúc ngọt ngào, dư vị khó tả... Tạm biệt Sơn La, chúng tôi lên Điện Biên - nơi có chiến thắng lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Thời gian đã qua đi, tiếng súng đã qua đi... mọi thứ đều thay đổi nhưng dấu tích của một thời: Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng thì hãy còn nguyên vẹn... Thắp hương tại Nghĩa trang liệt sĩ, thăm các di tích lịch sử, mỗi chúng tôi lại càng biết ơn sự hy sinh xương máu của thế hệ cha anh thuở trước, cũng cố niềm tự hào, niềm tin tưởng vào tiền đồ cách mạng và có thêm sức mạnh để bước tiếp... Nhìn vẻ suy tư, đầy xúc cảm khi ngồi trước cuốn Sổ Vàng tại Bảo tàng Lịch sử Điện Biên của thầy giáo trưởng đoàn, chúng tôi đoán biết được tâm trạng và những câu chữ mà ông đã ghi vào trong đó.... Đi chợ Điện Biên mới "đo" được sự phát triển toàn diện của một đô thị đang từng ngày thay áo mới, xứng đáng là "địa chỉ đỏ" cho mỗi chúng ta, mà dù ở đâu ta cũng hướng về. Hai bên đường, cây đào, cây mận, đã bắt đầu nẩy lộc, dự cảm về một mùa xuân tràn ngập niềm vui sẽ tới với cả Tây bắc và Điện Biên anh hùng. Dọc các địa danh, từng chiếc lá Tếch mong manh như những cánh chim hòa bình tung bay trong nắng chiều khô lạnh, như chở bao ước mơ của những người lính đã ngã xuống đất này. Chiến trường xưa với những dấu tích là những căn hầm, những giao thông hào, những hố bom... giờ đã trở thành di tích phục vụ khách tham quan, du lịch. Lên Điện Biên, không thể không chiêm ngưỡng cánh đồng Mường Thanh và những thửa ruộng bậc thang đã thấm bao giọt mồ hôi với những nhọc nhằn của người nông dân để có được đặc sản gạo Điện Biên nổi tiếng... Rất cảm động khi lãnh đạo, cán bộ chuyên viên Sở GD&ĐT Điện Biên đã bất ngờ, chủ động đón mời. Tuy cách xa về không gian địa lý, khác nhau về khí hậu, thời tiết và mỗi một vùng đất đều có những nét văn hóa độc đáo thể hiện bản sắc của mình... nhưng tất cả đều chung một nhiệm vụ chính trị - là những người làm nghề dạy học. Đây chính là đầu mối của sự giao lưu, cánh cửa của mọi đối thoại, giúp Điện Biên - Hà Tĩnh xích lại gần nhau hơn trong những lần gặp gỡ. Trước tình cảm của bạn, lần đầu đến Điện Biên, chúng tôi như được về ngôi nhà riêng của mình với bao cảm xúc gần gũi thân quen... Hôm sau, đoàn lên đường đi Lào Cai. Ấn tượng mạnh nhất, sự trải nghiệm phiêu lưu nhất với mỗi chúng tôi về sự hùng vĩ dữ dội của núi rừng miền Tây có lẽ là đoạn từ Lai Châu về Lào Cai. Suốt cả chặng đường chỉ có vượt đèo, xuống dốc, những bông hoa chuối đỏ tươi như cố làm trẻ lại màu xanh trầm tịch của rừng già... Đúng là Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây. Dốc cứ lên cao mãi, cao mãi hút mắt nhìn để rồi đổ gập xuống sâu tưởng như vô cùng vô tận. Hầu như không ai dám ngoái nhìn xuống phía dưới. Con người như đang thể nghiệm trò bập bênh chóng mặt. Chỉ một chút liếc nhìn cũng đủ khiến những ai yếu bóng vía phải run lên vì sợ hãi. Trong chúng tôi thoáng hiện những liên tưởng về sự bất an. Ta có cảm tưởng như gặp lại cảnh núi non hiểm trở đầy thách thức từng được Lý Bạch nói tới trong bài "Thục lộ nan": "Thục đạo chi nan - nan ư thướng thanh thiên" (Đường xứ Thục khó đi - Khó như lên tới tận trời xanh). Có lẽ nhà thơ Quang Dũng đã lấy cảm hứng ở đây để viết trong bài Tây Tiến: "Dốc lên khúc khưỷu, dốc thăm thẳm - Heo hút cồn mây súng ngửi trời - Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống...". Con đèo mà chúng tôi đi qua là đèo Ô Quy Hồ. Đèo nối liền hai tỉnh Lào Cai và Lai Châu, uốn lượn quanh dãy núi Hoàng Liên, nơi có đỉnh Fanxipang- nóc nhà Đông Dương lộng gió trên đỉnh cao 3.414m. Nó còn được biết đến với cái tên đèo Hoàng Liên, nhưng với nhiều khách lữ hành yêu Tây Bắc, cái tên Ô Quy Hồ đã gần như một huyền thoại… Một con đèo hoang dại trên cao độ gần 2.000m. Cung đường đèo dài gần 50km, trong đó 2/3 đường thuộc địa phận của huyện Tam Đường - Lai Châu, 1/3 còn lại nằm ở phía Sapa - Lào Cai. Vượt qua cổng vườn Quốc gia Hoàng Liên chừng vài cây số là tới đỉnh đèo Ô Quy Hồ, cũng chính là điểm ranh giới giữa hai tỉnh miền núi phía bắc Lào Cai và Lai Châu. Dừng chân qua đêm ở Sa Pa, một vùng đất khiêm nhường, lặng lẽ nhưng ẩn chứa bao điều kỳ diệu của cảnh sắc thiên nhiên. Hoa đào, hoa mai.... bắt đầu khoe sắc; cùng với địa hình của núi đồi, màu xanh của rừng, Sa Pa như bức tranh có sự sắp xếp theo một bố cục hài hoà, tạo nên một vùng có nhiều cảnh sắc thơ mộng hấp dẫn. Chìm trong làn mây bồng bềnh, thị trấn Sa Pa như một thành phố trong sương huyền ảo... Khó có thể kể hết những kỷ niệm đẹp suốt dọc hành trình Qua miền Tây Bắc. Những nội dung phục vụ đề tài mà đoàn thu nhận được là rất bổ ích và thiết thực. Nhóm nghiên cứu sẽ chuyển hoá trong quá trình thực hiện và triển khai đề tài. Ở đây, chỉ có tính chất điểm xuyết, ghi lại những trải nghiệm thực tế, những cảm nhận rất chủ quan của các thành viên đoàn... Với nhiều người, kỷ niệm sống động nơi đây có lẽ chỉ đến một lần mà theo mãi trong đời... Cảm ơn Tây Bắc thân yêu của tổ quốc! Xin hẹn ngày tái ngộ. Cảm ơn ưu thế của đề tài khoa học mà ngành Giáo dục Hà Tĩnh đang thực hiện... Không thể quên được cái rét ngọt rất đặc trưng luôn hiện hữu ở nơi núi rừng hùng vĩ dữ dội và tuyệt vời thơ mộng ấy; lại càng không thể quên được nghĩa tình bình dị, rất đỗi thân thương mà con người Tây Bắc đã dành trọn cho đoàn qua những lần gặp gỡ, làm việc ở Bản Moòng, xã Huơ La, Bản Hua Ít ở Mường La... Hình ảnh những nữ cán bộ người Thái năng động, sáng tạo, tận tụy với công việc ở Bản Cọ, những "dáng hồng" vùng sơn cước ở bản Tông trong đêm giao lưu văn nghệ tưng bừng náo nhiệt, mãi là những ấn tượng đẹp không thể phai mờ với những ai đã một lần đến vùng quê đậm nghĩa thắm tình này.../.
|