Bản in

Ký ức chiến tranh - Tiếp theo của Phần 4

Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu phần cuối của tác phẩm Ký ức chiến tranh


 

    Từ đó đến gần sáng, chúng tôi lo tắm rửa, thay quần áo, đào huyệt mai táng để kịp sáng hôm sau chuẩn bị chiến đấu. Tôi đã cẩn thận viết tên tuổi, địa chỉ vào giấy rồi cuộn lại, cho vào chai thuỷ tinh, bỏ vào túi ngực của từng người rồi mới mai táng. Đồng và Thuất được chôn cất cẩn thận trên một bờ kinh, gần bốt Rạch Mương thuộc địa bàn xã An Thạnh, Bến Lức, Long An. Và cũng chính tay tôi đã chặt một cây bình bát, đẽo vạt hai phía, viết tên và địa chỉ của họ (bằng mực bi) vào từng miếng gỗ rồi cắm dưới chân mộ. Vậy mà sau giải phóng, khi quy tập vào nghĩa trang An Thạnh, những người cất bốc thiếu cẩn trọng, đã làm mất tên của hai người (thành liệt sỹ vô danh). Không biết đâu là mộ Đồng, đâu là mộ Thuất. Gần đây, chú em trai của Đồng có gọi điện vào cho tôi để hỏi về trường hợp hy sinh của Đồng (trước đó, cậu ta đã vào tận nghĩa trang An Thạnh để tìm phần mộ nhưng không thể phân biệt được đâu là mộ của anh trai). Tôi đã kể khá tỷ mỉ qua điện thoại tình tiết của sự hy sinh hôm đó, nhưng cậu ta bảo không có cách gì để nhận biết. Tôi bảo, chỉ còn hai cách, xét nghiệm ADN hoặc xin đào mộ của một trong hai người lên rồi xem hộp sọ.     Nếu sọ bị vỡ là của Thuất; còn nguyên là của Đồng.

    Quả thật, trong những năm tháng chiến đấu ác liệt ấy, không biết bao nhiêu lần làm công tác tử sỹ, tôi đã trực tiếp mang vác, chôn cất hàng chục đồng đội hy sinh. Cái chết nào cũng làm tôi xót đau, trào nước mắt. Nhưng sự hy sinh của Đồng và Thuất đêm ấy gây một chấn động mạnh trong tâm thức tôi. Họ chết ngập chìm trong máu của chính mình khi đang ngủ và đau đớn hơn là họ hy sinh ngay trước ngưỡng cửa của ngày toàn thắng, khi đời còn quá trẻ, chưa đầy tuổi 25...

     Những ngày này, chiến sự diễn ra vô cùng ác liệt. Đặc biệt là cửa ngõ phía Đông và Đông bắc Sài Gòn. Tin chiến thắng dồn dập bay đến như những hồi kèn xung trận thôi thúc chúng tôi quyết tâm giữ vững ý chí chiến đấu. Biết là ngày toàn thắng đang đến gần nhưng trong số chúng tôi, ai sẽ là những người tiếp theo ngã xuống như Thuất, như Đồng?! Ai sẽ là người may mắn còn lại sau cuộc chiến này? Điều ấy không phải hoàn toàn không có ai nghĩ đến. Cũng có những phút giây giữa hai trận đánh, suy nghĩ ấy chợt loé lên trong đầu mỗi người. Nhưng tất cả chỉ trong khoảnh khắc rất ngắn rồi nó nhanh chóng tan biến đi nhường lại là hào khí của chiến dịch và quyết tâm chiến đấu trong trận cuối cùng... Nét tâm lý ấy là hoàn toàn có lý và cũng dễ cắt nghĩa thôi. Bởi sau bao năm chiến đấu, trải qua bão đạn mưa bom, ai cũng có một khát vọng là ngày toàn thắng may ra mình còn được sống để trở về...

     ...Từ trận địa nơi chúng tôi phục kích, nhìn về hướng Bắc và Đông Bắc khoảng 30 dặm, tiếng bom, pháo xen lẫn tiếng máy bay gào rít và những cột khói đen khổng lồ, từ sân bay Tân Sơn Nhất và tổng kho Long Bình cuộn lên. Phía ấy, chiến sự vẫn diễn ra ác liệt. Ta và địch giành giật nhau từng tấc đất. Máu của chiến sỹ ta cứ từng giờ từng phút đổ xuống. Đặc biệt là ngã ba Xuân Lộc (Long Khánh), nơi có hàng trăm đồng đội chúng ta đã và đang ngã xuống trước giờ toàn thắng...

      ...Ngày 25 tháng Tư, trận đánh phục kích bọn địch sư 23 nguỵ âm mưu giải toả căn cứ Lương Hoà bị ta bao vây, diễn ra.

     Nơi chúng tôi phục kích gần lộ 21 nối Chi khu Bến Lức đến căn cứ Lương Hoà, bên bờ sông Vàm Cỏ Đông, tỉnh Long An, cách Sài Gòn khoảng 30 km. Đã 2 ngày nằm chờ nhưng bọn địch không dám ra. Chúng co cụm, cố thủ trong mấy ruộng mía của dân. Có những thằng liều lĩnh hơn thì lấy mũ sắt tát cá ở con kinh nhỏ cách chúng tôi chừng 300 mét. Tôi và Chu Văn Lương, cùng công sự. Tôi, B40; Lương, trung liên. Phía trái cách chừng 50 mét là công sự của Vũ Duy Tòng và Nguyễn Văn Từ, trung đội phó (quê Quảng Xương, Thanh Hoá). Phía sau là cối 60 và 82 ly.

    Chừng 8 giờ, trong mấy ruộng mía, bọn địch vẫn la ó, đi lại, nấu nướng gì đó... vì thấy khói toả lên. Tôi thấy Lương vừa đứng dưới hầm cảnh giới, vừa ngủ gật. Tôi liền bảo: "Thôi, cậu xuống hầm ngủ một lúc đi, lát nữa, tớ gọi thay gác" (ở chiến trường, bao giờ cũng vậy, lúc chờ địch vào là lúc thần thần kinh cực kỳ căng thẳng do bị ức chế, nên ai cũng buồn ngủ). Hơn 9 giờ, tôi cũng bắt đầu cảm thấy hai mắt díp lại, nặng trĩu. Biết rằng, chỉ cần một lúc nữa là tôi sẽ ngủ quên. Cúi xuống hầm, tôi gọi Lương dậy thay gác cho mình. Lương dụi mắt, đứng dậy thay tôi. Trước khi chui xuống hầm, tôi còn dặn với: "Phải thật cảnh giác, hôm nay không chừng chúng nống ra. Ngủ quên là chết đó!"

    Tôi ngồi dựa lưng vào thành công sự. Cơn ngủ kéo đến lúc nào...

    Bỗng, ầ...m... Một tiếng nổ làm rung chuyển căn hầm. Mùi khói đạn phả vào nồng nặc. Tiếp theo, có nhiều tiếng nổ khác cùng tiếng AK lẫn AR15. Tôi chụp vội B40 định đứng dậy siết cò, chợt nghĩ nhanh: "Đứng dậy lúc này có thể bị ăn đạn!" Tôi rút vội quả lựu đạn "da láng" của Mỹ, rút chốt, thảy qua cửa công sự về phía trước. Lựu đạn nổ. Tôi bật dậy chụp vội B40, nhắm hướng địch siết cò. Quả đạn lao đi. Lương cũng xả trung liên vào bọn địch tháo chạy phía trước. Tôi xoay tay, đẩy quả đạn thứ hai vào nòng, nhảy lên công sự nhắm tốp địch đang chạy thục mạng vào phía rặng trâm bầu, kéo cò. Quầng lửa da cam và khói quen thuộc trùm lên che khuất tốp lính. Tôi lắp tiếp quả thứ ba, lấy góc bắn 45 độ nhắm vào hướng bọn địch đang tháo chạy trở lại. Viên đạn lao vút đi, tiếng nổ nghe rất xa. Lúc này bắn chỉ để uy hiếp, vì bọn tàn quân đã tháo chạy vào gần ruộng mía. Đang mải nhìn về phía bọn lính, bỗng một tiếng nổ lớn, tiếp theo là bùn và cỏ bàng (cói) bắn vào người. Tôi chẳng hiểu gì cả. Sau mới biết, đó là tiếng nổ của quả cối 60 ly (cối tép), được khẩu đội Nguyễn Viết Kỷ và Nguyễn Văn Tý bắn lên. Do lún bàn đế nên quả đạn bị rút tầm, rơi nổ gần chỗ tôi. May mà đạn rơi xuống bưng nếu không, tôi đã "anh dũng hy sinh" vì nó. Sau trận ấy, tôi được Kỷ kể lại rằng, khi bắn lên, do không lắp liều phụ vào nên trông rất rõ đường đi của viên đạn. Vì vậy, khi thấy viên đạn cối rơi ngay chỗ tôi đứng, Kỷ cố sức la hét để tôi có thể nghe thấy. Nhưng vì tôi vừa bắn xong ba quả B40, tai đang ù đặc. Vả lại, lúc ấy tiếng súng các loại còn rền vang, làm sao tôi có thể nghe được tiếng la của Kỷ để tránh!

    Khói tan... Bây giờ, tôi mới kịp nhìn xuống dưới chân mình. Khúc cẳng chân của một thằng lính nguỵ bị cắt cụt từ đầu gối còn mang giày trận và dính cả ống quần, hất lên công sự tôi do hơi B40. Phía trước chừng ba mét, năm xác chết đen đúa đè lên nhau, cách đó vài mét, có hai xác nữa. Mấy khẩu AR15 văng ra, có khẩu gẫy nát.

    Thì ra, lúc tôi chợp mắt, Lương thay gác, đã ngủ quên. Bọn địch mò vào ngay chân công sự mà Lương không hề hay biết. Chỉ cần vài bước nữa là chúng sẽ thấy hầm chúng tôi. Chắc chắn chúng tôi sẽ được "ăn" lựu đạn. May mà chỗ đấy rất bất ngờ với địch. Mặt khác, chúng tôi nguỵ trang rất khéo nên chúng chưa kịp phát hiện. Nhưng khả năng nhiều hơn mà tôi nhận định sau đó là bọn lính sư 23 nguỵ, quen tác chiến ở vùng núi, khi chạy về đồng bằng, chúng không có kinh nghiệm, nên không phát hiện ra chúng tôi. Tiếng nổ ấy là do quả B40 của Vũ Duy Tòng bắn đến để giải cứu cho tôi và Lương. Sau trận ấy, Tòng cho biết: Lúc thấy địch vào, cứ tưởng chúng tôi đã biết nhưng còn chờ cho vào gần mới nổ súng. Đến lúc chúng vào sát chân công sự rồi, vẫn không thấy động tĩnh gì, Tòng đoán chúng tôi ngủ quên nên đã giáng quả đạn ấy để tiêu diệt tốp lính. Cậu ta cho biết rất có thể sức nóng và sức ép của nó sẽ làm chúng tôi bị thương, nhưng không còn cách nào khác. Quả B40 định mệnh ấy đã kết liễu 7 tên lính của sư đoàn 23 nguỵ để cứu sống tôi và Chu Văn Lương.

    Tôi viết lại kỷ niệm này như một sự tri ân đối với đồng đội. Và một điều quan trọng khác là bài học về sự gắn bó, sẵn sàng chia lửa cho nhau ở những thời khắc gian nan và ác liệt nhất của những trận đánh. Đó là yếu tố làm nên chiến thắng và tình chiến hữu máu thịt.

    Trước đó, trong một trận đánh khác, chúng tôi đã có cuộc đọ súng với một đơn vị khác (cũng của Sư đoàn 23 nguỵ). Cả ngày hôm đó, chúng sợ không dám nống ra. Mãi đến hơn 14 giờ, mới dò dẫm men theo lộ 21 lên hướng Lương Hoà hòng thực hiện kế hoạch giải toả cho căn cứ này. Đại đội tôi nhận nhiệm vụ khoá đuôi, vu hồi. Địch đã tiến được khá xa mà không thấy động tĩnh gì cả. Chúng trở nên dè dặt hơn, tốc độ hành quân chậm lại. Có quãng chúng co cụm, không rõ để làm gì. Chờ cho tốp đi đầu lọt vào đội hình phục kích, đại đội một và hai nổ súng chặn đánh. Chúng tôi xung phong khoá đuôi. Từ chỗ xuất kích đến đội hình quân địch khoảng 300 mét. Từ xa, các loại vũ khí phát huy tối đa hoả lực. Cối 82 và 60 dội xuống. Tiếp theo là B41, trung liên, B40, AK đồng loạt quất vào đội hình quân địch. Tôi đã bắn hết 4 trái B40 vào bọn đang tháo chạy. Quãng đường xuất kích khá xa, phải băng qua một quãng bưng lại vừa xuất kích vừa hô xung phong nên ai nấy đều muốn đứt hơi. Lúc này trời đã chạng vạng tối. Tôi vừa băng lên thì chợt thấy một khu lăng mộ trước mặt, liền chạy ngay đến đấy để lấy chỗ tránh đạn và đón đợi bọn địch tháo chạy trở lại. Đánh mắt sang bên phải chếch lên phía trước, tôi chợt phát hiện một tốp 7- 8 bóng đen đang lao tới. Tôi vội kê súng lên bờ gạch của ngôi lăng, bình tĩnh kéo búa đập xuống, chuẩn bị. Chờ cho mấy bóng đen đó vào gần một đoạn nữa, tôi nghếch nòng B40, há miệng, siết cò. Tiếng nổ chói tai, quả đạn lao vút đi. Trong khoảnh khắc một quầng lửa màu da cam nhoáng lên kèm theo một tiếng nổ lớn phía trước tốp người đang chạy. Tôi bỗng nghe tiếng hét, giọng Nghệ Tĩnh: "Đừng bắn! Đừng bắn! Bộ đội đây!". Tôi giật mình hoảng hốt: "Chết rồi! Mình bắn nhầm vào đồng đội!". Tôi hỏi lớn: "Có ai làm sao kh...ô..ông?" Có tiếng đáp: "Kh...ông". Rất may, trời nhá nhem tối nên tôi căn cự ly không chính xác, quả đạn nổ phía trước mặt tốp người kia khá xa. Nếu không chắc tôi đã thui chín mấy đồng đội của mình rồi! Tỉếng trả lời đó là của Đinh Văn Luận, đại đội phó, người mà tôi đã kể về chi tiết rơi từ trên cây cao xuống khi chúng tôi đánh bốt Rạch Nhum (Tân Phú) hồi năm 1974. Luận cũng có mặt trong đội hình của tốp người này. Tôi chạy ngay đến chỗ họ. Không ai làm sao cả. Không hiểu sao lúc đó, tự nhiên, như có ai bảo tôi bắn sớm? Cứ như mọi lần, chờ họ vào thêm một đoạn nữa mới nổ súng thì chắc chẳng còn một ai. Thật hú vía!

    Trận đánh này có thêm một tình huống rất buồn cười. Đó là một đồng chí của ta đuổi theo một tên địch. Khoảng cách hai người chỉ chừng 25 - 30 mét nhưng không làm sao đuổi kịp, bắn mãi mà không hề trúng. Đồng chí ấy chạy thì nó chạy. Đồng chí ấy đi, nó cũng đi. Lúc dừng, cả hai cùng dừng. Thằng lính không còn đủ sức để xách súng nữa nên kéo lê trên mặt đất. Anh chiến sỹ của ta đưa súng lên bao nhiêu lần để ngắm bắn mà cũng không hề trúng. Vì cả hai đã mệt đứt hơi. Hệt như trò mèo đuổi chuột. Đuổi mãi, đuổi mãi, khi thấy đã quá xa, tên lính cũng chạy về gần tới bốt Rạch Mương, đồng chí ấy đành phải quay lại. Nó cũng ngoái nhìn rồi thất thểu bước về hướng bốt.

    Đêm 27/4, chúng tôi nhận lệnh vượt sông Vàm Cỏ Đông để phối hợp với với Sư đoàn 5 và Đoàn 232 đánh chiếm Chi khu Thủ Thừa, thị xã Tân An và Chi khu Bến Lức, nhằm khai thông hành lang cho đại quân tiến về Sài Gòn. Mục tiêu và nhiệm vụ của Đoàn 232 trong chiến dịch Hồ Chí Minh là đánh chiếm Tổng nha Cảnh sát và Biệt khu Thủ đô để cùng với các quân đoàn bạn hợp điểm tại Dinh Độc Lập vào trưa 30 tháng 4.

    Khoảng 10 giờ sáng ngày 28 tháng 4, chúng tôi nghe nhiều loạt tiếng nổ lớn từ hướng sân bay Tân Sơn Nhất. Phía ấy, nhiều cột khói đen lớn bốc cao, rồi cả một vùng trời bị che phủ bởi khói lửa. Đơn vị báo tin chiến thắng. 17 giờ cùng ngày, chúng ta đã dùng một phi đội năm chiếc chiến đấu cơ A37 cướp được của địch do một trung uý phi công nguỵ phản chiến dẫn đầu, dội bom Tân Sơn Nhất, làm tê liệt hoàn toàn hệ thống sân bay này (Sau này chúng tôi mới biết đó là trung uý phi công Nguyễn Thành Trung, một chiến sỹ tình báo của ta được gài vào hàng ngũ địch). Lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh giải phóng dân tộc, không quân ta đã xuất trận trực tiếp dội bom vào đầu quân nguỵ và lập công xuất sắc, làm tiêu ma những hy vọng cuối cùng của chúng. Chính từ thời khắc lịch sử ấy trở đi, chế độ nguỵ quyền Sài Gòn rơi vào hoảng loạn, dẫn đến kết cục sụp đổ nhanh chóng, không gì cứu vãn nổi.

    Chúng tôi không được vinh dự có mặt ở Sài Gòn trong ngày 30/4/1975 bởi mệnh lệnh cấp trên giao phải ở lại chiến trường Long An để cùng đơn vị bạn bảo vệ hành lang cho đại quân tiến đánh Sài Gòn và làm nhiệm vụ quân quản.Trong những ngày 28, và 29 tháng 4 vừa chiến đấu, chúng tôi vừa bám sát tin chiến sự từng giờ. Đài tiếng nói Việt Nam liên tục đưa tin chiến thắng và diễn biến chiến dịch.

    Ngày 30/4/1975. Chín giờ 25 phút, Tổng thống nguỵ Dương Văn Minh tuyên bố xin ngừng bắn. 10 giờ 45, phân đội thọc sâu của quân đoàn II tiến vào Dinh Độc Lập, bắt sống toàn bộ nội các của chính quyền Sài Gòn, buộc Tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng không điều kiện. 11giờ 30 phút, lá cờ Tổ quốc thắm máu bao thế hệ người Việt Nam yêu nước tung bay trước cửa nhà chính của Dinh Độc Lập. Giờ phút lịch sử thiêng liêng của cả dân tộc cũng như mỗi người lính chúng tôi đợi chờ hàng mấy mươi năm đã đến. Một cảm xúc nghẹn ngào, khó tả dâng trào trong trái tim của mỗi chúng tôi - những người lính đã trải qua những năm tháng ác liệt đạn bom, may mắn còn sống và có mặt trong trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, chứng kiến một chế độ thối nát, ôm chân ngoại bang trong giây phút giãy chết.

     Toàn thắng! Thế là toàn thắng! Chúng ta đã thắng thật rồi! Hoà bình rồi! Hết chiến tranh rồi! Chúng tôi hướng nòng súng lên trời xả đạn, đón chào chiến thắng, rồi ôm nhau khóc, cười như trẻ thơ, như ngây dại. Chiến thắng đến quá nhanh. Mặc dù đã biết trước, vậy mà vẫn cứ bàng hoàng, ngây ngất. Một niềm vui không có ngôn ngữ để diễn tả. Không có lời nào để thể hiện hết tâm trạng của những người lính chiến đã trải qua mưa bom bão đạn và chịu nhiều cay đắng như chúng tôi. Vậy là chiến tranh đã chấm dứt. Đất nước đã được giải phóng! Khát vọng hoà bình đã thành hiện thực! Mình được sống rồi! Mẹ ơi! Con được sống rồi! Chỉ nay mai thôi, chúng con sẽ được sum họp với gia đình sau bao năm trời đằng đẵng xa cách. Không ai bảo ai, nhưng ai cũng đều nghĩ như vậy.

    Nhưng rồi cũng chính trong những giây phút bàng hoàng, hả hê, sung sướng đến  ngây ngất ấy, chúng tôi chợt đau đớn, ngậm ngùi, tiếc thương nghĩ về đồng đội - những người đã hy sinh. Rất nhiều người vừa mới ngã xuống trước giờ toàn thắng... Có niềm vui chiến thắng nào lại không phải trả giá bằng máu và bằng nỗi đau mất mát!?

     Hơn ai hết, là những người trong cuộc, chúng tôi biết cái giá phải trả cho ngày toàn thắng, cho độc lập tự do là không thể nào tính nổi! Hiện thực khách quan ấy, chúng ta mặc nhiên phải thừa nhận. Mẹ Việt Nam vô cùng đau đớn, nhưng cũng hết mực tự hào về những đứa con của Mẹ, đã mấy mươi năm kiên cường bền bỉ cầm súng đánh giặc và dũng cảm hy sinh không tiếc máu xương cho độc lập tự do của Tổ quốc mình. Chúng ta đã làm tròn sứ mệnh mà lịch sử dân tộc và tiền nhân giao phó, đã đi trọn con đường mà Đảng và Bác Hồ kính yêu đã vạch ra: "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào..." để "Bắc Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!".

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

VĨ THANH

 

    Có thể nói, trong thế kỷ XX, nhân loại đã chọn lựa và tin tưởng để đặt lên vai dân tộc ta một trọng trách, một nhiệm vụ lịch sử to lớn, thiêng liêng, mang ý nghĩa thời đại. Đó là phải đánh bại chủ nghĩa thực dân cũ và mới - những kẻ thù hung bạo và hùng mạnh vào bậc nhất thế giới - để khẳng định và chứng minh chân lý về "Quyền độc lập, tự do dân tộc"; "Quyền con người được sống và mưu cầu hạnh phúc". Chúng ta đã lãnh nhận sứ mạng lịch sử ấy, để rồi biết phát động và kết thúc chiến tranh một cách trọn vẹn nhất.

    Nếu chỉ tính từ sau Hiệp nghị Giơnevơ 1954 đến 30 tháng 4 năm 1975, thì dân tộc ta đã phải trải qua hai mươi mốt năm gian khổ, chiến đấu, hy sinh. Hai mươi mốt năm ấy, đã có biết bao thế hệ kiên cường, bền bỉ cầm súng đánh giặc quên mình để có ngày toàn thắng. Lớp lớp những con người Việt Nam ưu tú đủ mọi lứa tuổi nối tiếp nhau cống hiến trọn vẹn tuổi hoa niên của mình cho độc lập tự do của dân tộc. Và trong số đó, hàng triệu người đã vĩnh viễn ngã xuống. Chúng tôi cũng thuộc một trong những lớp người ấy. Nhưng vinh dự hơn là được chiến đấu và có mặt trong trận cuối cùng để giải phóng đất nước. Và cũng hết sức may mắn so với nhiều đồng đội là còn được sống, trở về sau ngày toàn thắng.

     Cuộc đụng đầu lịch sử giữa dân tộc ta - một dân tộc nhỏ bé với một siêu cường quốc hùng mạnh nhất thế giới trong tương quan một thắng một nghìn là một minh chứng hùng hồn về sức mạnh của chiến tranh nhân dân kỳ diệu, dưới sự lãnh đạo của một Đảng Mac xit chân chính - Đảng Cộng sản Việt Nam. Đã khẳng định trước nhân loại về chân lý "Không có gì quý hơn độc lập tự do". Chân lý ấy luôn toả sáng cho mọi thời đại. Và vì nó mà con người Việt Nam không hề so đo, tính toán thiệt hơn giữa cái chết với sự sống. Luôn ý thức: "Độc lập tự do hay là chết!". Không tiếc máu xương của mình cho những giá trị vĩnh cửu ấy.

    Từ cuộc kháng Pháp thần thánh chín năm với kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội, “chấn động địa cầu” đã làm nên "vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng", đến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại hai mươi mốt năm, đất nước đã trải qua trên mười ngàn ngày đêm chưa bao giờ ngưng tiếng súng. Sức chịu đựng kiên cường, bền bỉ, dám hy sinh có một không hai của chúng ta đã trở thành biểu tượng về ý chí quật cường và sức mạnh "Không có gì quý hơn độc lập tự do" đối với các dân tộc bị áp bức trên hành tinh này...

    Một triệu ba trăm năm mươi mốt ngàn quân nguỵ Sài Gòn bị tiêu diệt và tan rã. Một chế độ mà Mỹ cố công dựng lên và nuôi dưỡng hơn 20 năm đã sụp đổ tan tành. Chiến thắng vĩ đại này đã hoàn toàn chấm dứt 117 năm sự thống trị của các thế lực ngoại bang phương Tây. Để Tổ quốc, giang sơn đã thu về một mối. Đất nước trọn niềm vui... Vinh quang này vĩnh viễn thuộc về những người con ưu tú của dân tộc đã cống hiến máu xương và cả cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước.

     ... Chiến tranh đi qua, chúng tôi đã để lại phía sau lưng mình những trận đánh vang dội cùng những năm tháng hào hùng đầy gian khổ, hy sinh để trở về với cuộc sống đời thường. Nơi đó có tổ tiên, ông bà, cha mẹ cùng những người thân yêu nhất đang ngày đêm mỏi mòn, khắc khoải, trông ngóng những đứa con trở về từ các chiến trường...

    Trong hơn một năm, từ giữa 1976 đến cuối 1977, trước khi bè lũ Pôn Pốt - Iêng Xa Ri (Campuchia) trở mặt phản bội chúng ta, gây chiến tranh biên giới Tây nam, chúng tôi lần lượt được giải ngũ, chuyển ngành sau khi đã tham gia làm kinh tế thời hậu chiến ở Long An và Đồng Tháp (Sa Đéc cũ). Khá nhiều đồng đội trong đó có Vũ Duy Tòng, Chu Văn Lương, Đào Xuân Nhuận, Phạm Khắc Đính, Hồ Hữu Danh, Lê Văn Quyền, Nguyễn Hữu Dĩnh, Trần Đức Khâm, Nguyễn Văn Kháng, Trần Lân, Nguyễn Văn Bính, Dương Huy Thẩu... và tôi cùng chuyển ngành, xuất ngũ một đợt. Nguyễn Viết Kỷ (C3, D7), Trương Thiên Lý (C 25 đặc công), Nguyễn Đình Xưng (C 23 vận tải)... và một số đồng chí khác lần lượt ra quân ở các đợt sau.

    Trở về với cuộc sống đời thường sau những năm tháng trận mạc, chúng tôi lại phải đối mặt với cuộc chiến mới không có tiếng súng. Cuộc chiến chống đói nghèo và tụt hậu. Cái chết không còn rình rập như thời đạn bom, nhưng cái vất vả, nghèo đói, thiếu thốn của một đất nước vừa ra khỏi chiến tranh như một bức tranh hiện thực xã hội mà màu tối là gam màu chủ đạo. Thực tế ấy lại đặt chúng tôi trước thử thách mới phải lựa chọn: Cúi đầu chấp nhận hay nỗ lực, cố gắng để thoát ra khỏi nó! Bằng ý chí và bản lĩnh của người lính, chúng tôi lại động viên nhau và nguyện tiếp tục phát huy bản chất của người lính, của "Bộ đội Cụ Hồ" trong đời thường. Cùng nhau vượt lên khó khăn gian khổ để tồn tại, làm việc và đi tới cho đến ngày hôm nay.

    Đã qua rồi những năm tháng đầy gian nan thử thách bởi "áo cơm ghì sát đất" ở cuối thập niên 70 và thập niên 80. Có thể nói đó là giai đoạn đen tối nhất của đời sống xã hội thời bao cấp. Cuộc sống thường nhật với biết bao thiếu thốn khó khăn, tưởng chừng như không vượt qua nổi. Người bạn chiến đấu thân thiết gắn bó nhất của tôi - Vũ Duy Tòng- sau khi giải ngũ về quê hương, đến năm 1977, trở lại học tiếp lớp 10 (năm 1970 lúc nhập ngũ, Tòng đang học lớp 9). Sau đó thi vào Đại học Sư phạm Hà Nội I. Hiện nay, anh là giáo viên Ngữ Văn trường THPT Diễn Châu II, Nghệ An. Còn tôi, sau khi giải ngũ 1 năm, năm 1977 tôi trở lại trường THPT để hoàn thành nốt chương trình lớp 10 (ngày nhập ngũ tôi còn học dở lớp 9), năm 1978 thi đậu vào khoa Văn, Đại học Sư phạm Vinh. Nhưng sắp có giấy báo nhập học thì được lệnh tái ngũ vào tháng 8 – 1978. Tuy nhiên do không đủ sức khỏe, tôi được quyết định về địa phương rồi vào đại học. Tháng 2 -1979, khi chiến tranh biên giới phái Bắc nổ ra thì tôi lại là một trong  sáu đồng chí của khoa Văn có tên trong danh sách tái ngũ. Tuy nhiên, sau đó tình hình biên giới tạm ổn nên được đình hoãn tái ngũ lần 2  để tiếp tục học tập…

    Sau bốn năm đèn sách, ra trường với tấm bằng tốt nghiệp loại ưu, tôi được điều vào dạy Sư phạm Quy Nhơn. Nhưng rồi gần như một định mệnh, tôi quyết định xin từ chối, "Quyết định" công tác, với lý do đơn giản là vừa chân ướt, chân ráo ở chiến trường về, hoàn cảnh gia đình quá ư khó khăn, không thể đi xa được. Liền sau đó, Tỉnh uỷ Nghệ Tĩnh lại xin được điều tôi về Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Nghệ Tĩnh, tôi lại từ chối với lí do trái với chuyên môn đã học của mình. Mãi đến tháng 9 năm 1982, tôi mới xin về dạy ở một trường miền núi, trường Cấp III Đồng Lộc (nay là trường THPT Đồng Lộc) cho gần nhà để có điều kiện phụ giúp gia đình...

    Sau gần 20 năm gắn bó với mái trường này, với biết bao kỷ niệm vui buồn đồng hành theo thời gian, nhiều thế hệ học sinh thân yêu đi qua cuộc đời tôi mà trong đó, không ít các em đã trưởng thành về mọi mặt, đang tung cánh muôn phương để cống hiến sức mình cho Tổ quốc. Tôi tự hào vì đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của người lính trên mặt trận mới. Tháng 9 năm 2001, tôi được Sở Giáo dục - Đào tạo Hà Tĩnh điều về công tác ở Sở...

     ... Trước khi kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam gần một năm, tôi đã ấp ủ một khát vọng là cần phải làm một việc gì đó để thể hiện những nỗi niềm và tình cảm về ngày vui chiến thắng. Đặc biệt là sự tri ân, sự đồng cảm sẻ chia với đồng đội thân yêu của mình, cùng những năm tháng đầy gian khổ, hy sinh mà hào hùng đã qua. Tôi nghĩ, chỉ còn cách duy nhất là ghi lại quá khứ và cố gắng tái hiện những hiện thực trần trụi của chiến tranh mà mình và các anh đã từng nếm trải...

     ....Gần một phần ba thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, có những điều của quá khứ đã được khép lại hoặc lãng quên nhưng cũng có những điều thì vĩnh viễn toả sáng trong khối óc, con tim và lương tri của tất cả mọi người. Và dù ai đó có cố tình quên đi thì nó vẫn cứ mặc nhiên hiện hữu. Những sự kiện, những con số, những kỉ niệm... mà tôi ghi lại trong hồi ký này như nó vốn có và như mới diễn ra đâu đây hôm qua. Dĩ nhiên là không thể nào nói hết được. Bởi trong cuộc chiến đằng đẵng ấy có biết bao tình huống, sự kiện đã xẩy ra. Hồi ký chỉ có thể chắt lọc những sự việc và con người điển hình mà thôi; làm sao có thể nói hết được Bởi trong cuộc chiến tàn khốc và đằng đẵng ấy, có biết bao tình huống, sự kiện đã xẩy ra. Hồi kỳ này chỉ chắt lọc những sự việc và con người điển hình mà thôi. Trên bề mặt của hiện thực chiến tranh, tôi đã cố gắng tái hiện được một phần rất nhỏ mức độ ác liệt của đạn bom và tinh thần quả cảm của đồng đội mình. Hồi ký được ghi lại theo trục thời gian thuận. Dĩ nhiên là sau hơn 30 năm, có thể đây đó, tôi không thể nhớ hết từng ngày. Nhưng, những trận đánh, những tên đất, tên người và sự hy sinh quả cảm của đồng đội mà tôi đã chứng kiến và ghi lại là không thể nào sai lệch. Bởi một mặt, những kỷ niệm ấy, với tôi vẫn tươi rói vì đã trở thành máu thịt. Mặt khách quan, đó là những đồng đội tôi sau ngày chiến thắng, may mắn còn sống, đã trở về với đời thường, thảng hoặc qua lại thăm viếng nhau, ôn lại những kỷ niệm chiến trường, tôi đều tranh thủ tham khảo ý kiến của họ. Chỗ nào nhớ không rõ, tôi được anh em bổ sung để hoàn thiện. Những con người tôi nêu tên trong tác phẩm này tuy kẻ còn, người mất, nhưng họ như vẫn ở bên tôi và như mới gặp nhau ngày hôm qua đây thôi. Điều gì giúp tôi nhớ lâu và nhớ kỹ như vậy? Tôi nghĩ, chỉ có tình đồng đội máu thịt cùng nhau sẻ chia những hy sinh, mất mát, gian khổ, ác liệt ở chiến trường mới có được. Bão táp thời gian và cuồng phong của lịch sử có thể sẽ làm lu mờ tất cả. Nhưng với tôi, kỷ niệm về những tháng năm binh lửa, trận mạc cùng những gương mặt đồng đội thân yêu thì đã trở thành tiềm thức. Hình ảnh ấy tự nhiên từ lúc nào đã trở thành một lớp trầm tích trong vỏ não của mình, để trong những thời khắc bất kỳ nó chợt tái hiện. Điều ấy, không chỉ riêng tôi mà là nét chung của tất cả những người lính đã cầm súng đi qua chiến tranh. Có thể nói: Đó là quãng đời đẹp nhất, đáng nhớ nhất của mỗi người.

    Trong những ngày vui lịch sử chuẩn bị kỷ niệm 30 năm Đại thắng mùa xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Đất Nước này, tôi chợt nhớ lại âm hưởng của một ca khúc được sáng tác ngay sau ngày toàn thắng. Có lẽ đó là cảm xúc dâng trào của người nghệ sỹ trước niềm vui bất tận ấy. Nhạc sỹ đã rất có lý khi viết giai điệu và ca từ cho bài hát của mình: "Ta đi trên đường mùa xuân, đường vang muôn tiếng hát yêu thương. Trong ánh mắt nụ cười rạng rỡ. Quê hương ơi! Biết mấy tự hào. Ta chung xây đất nước mạnh giàu. Về đây Nam Bắc, cầm tay ca múa trên con đường vui. Trời quê hương lộng gió ngàn phương, không còn bóng mây mù che lối..."... "Những lứa đôi ước hẹn, tuy xa cách nhưng lòng vẫn nhắc nhau ngày toàn thắng..." Và: "Trong niềm vui hôm nay, càng nhớ ơn anh Giải phóng quân, những chiếc mũ tai bèo thân thương. Anh qua bao suối, bao đèo muôn vàn gian khổ. Máu các anh đã đổ cho sông núi càng rực rỡ trong ngày toàn thắng! Tổ quốc ơi! Có bao giờ đẹp như hôm nay! Ta đang sống những ngày chói lọi, của Tổ quốc yêu thương, Tổ quốc Việt Nam ngàn đời vẻ vang..."!

    ..."Hôm nay...", như lời của bài ca, chính là ngày Ba mươi tháng Tư, năm Một ngàn Chín trăm Bảy mươi lăm. Ngày đất nước ta sạch bóng quân xâm lược và bè lũ tay sai. Ngày Tổ quốc và giang sơn thu về một mối để dân tộc ta ca khúc khải hoàn, bước sang một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của Độc Lập, Tự Do, ấm No, Hạnh Phúc. Mà để có nó, biết bao thế hệ người Việt Nam, trong đó có những người lính chúng tôi, đã phải đổ biết bao máu xương mới giành lại được.

 

Thị xã Hà Tĩnh, 11/11/2004 - 20/3/2005

Vương Khả Sơn

Sở Giáo dục - đào tạo Hà Tĩnh

ĐT: 091 2487840

(Nguyên chiến sỹ C4-D9, C2-D8 & C3-D7,

Trung đoàn Bộ binh 271 anh hùng

Quân Giải phóng miền Đông Nam Bộ)

 

 




Tin mới nhất Tin mới nhất