TRAO ĐỔI: Tổ chức dạy học chủ đề - Định hướng, hình thành và phát triển năng lực học sinh qua một số tác phẩm văn học

Thứ hai - 14/12/2015 23:01
TRAO ĐỔI: Tổ chức dạy học chủ đề - Định hướng, hình thành và phát triển năng lực học sinh qua một số tác phẩm văn học

 

 

  • Đặt vấn đề
  • Triển khai chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 29/NQ-TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nhà trường phổ thông có nhiệm vụ thông qua những hoạt động đổi mới dạy học và hoạt động giáo dục, trong đó có đổi mới cách tổ chức đọc hiểu tác phẩm văn học góp phần định hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học.
  • Hiện nay, với rất nhiều lí do khác nhau nên vấn đề làm chủ, kiểm soát bản thân và tự giác nhận lấy trách nhiệm của mỗi người đang là câu chuyện khiến nhiều người quan tâm. Hằng ngày, qua các kênh thông tin báo chí, internet và tiếp xúc trực tiếp…chúng ta rất dễ nhận ra việc làm thiếu trách nhiệm của một số cá nhân, tổ chức, đổ vẩy trách nhiệm cho người khác, cho yếu tố khách quan, gây hệ quả xấu cho môi trường sống và cho xã hội. Câu chuyện học sinh của chúng ta không làm chủ được bản thân, không tự giác nhận thấy trách nhiệm cũng đang gây nhiều lo lắng cho cha mẹ, các thầy cô và xã hội.

Trước những thực trạng đó, hơn ai hết, nhà trường phổ thông mà trực tiếp là đội ngũ thầy cô giáo qua dạy học và các hoạt động giáo dục cần định hướng, hình thành và phát triển cho người học ý thức tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Riêng giáo viên bộ môn Ngữ văn, do đặc thù môn học nên việc xây dựng chủ đề học tập để định hướng, phát triển phẩm chất và năng lực người học có nhiều thuận lợi rất cơ bản.

3.      Bàn về phương pháp dạy học Ngữ văn theo tinh thần đọc hiểu góp phần hình thành năng lực người học, Giáo sư – Nhà giáo nhân dân Trần Đình Sử đã có những trao đổi có tính định hướng: “Dạy đọc hiểu văn bản văn học như thế nào lại phải có hiểu biết về văn bản văn học và quy luật tiếp nhận văn học. Về văn bản văn học, trước nay thịnh hành quan niệm xem văn bản văn học là sản phẩm có sẵn ý nghĩa do tác giả, nhà văn cung cấp rồi, người đọc chỉ cần có khiếu thẩm mĩ là nắm bắt được ý nghĩa đó. Thực ra không phải vậy. Lí thuyết tiếp nhận cho biết, văn bản văn học chỉ là một cấu trúc mời gọi, nó chỉ cung cấp cái biểu đạt, còn cái được biểu đạt thì bỏ trống hoặc để mơ hồ cho người đọc tự xác định. Chúng ta đọc kĩ lại bất cứ văn bản nào đều thấy tác giả hầu như chỉ cung cấp cái biểu đạt. Kể một câu chuyện, nhà văn cũng chỉ kể các nhân vật và sự kiện, số phận, còn ý nghĩa thế nào thì để cho người đọc thể nghiệm. Một bài thơ nhà thơ chỉ cho biết cảm xúc của nhà thơ còn ý nghĩa ra sao thì tuỳ người đọc suy đoán. Như thế hoạt động đọc do người đọc làm chủ, phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, dựa vào ngữ cảnh trong văn bản và hoàn cảnh phát ngôn (viết) mà tìm ra ý nghĩa. Hoạt động tìm ý nghĩa này về thực chất là một quá trình kiến tạo ý nghĩa, một quá trình hoạt động đầy những thử và sai, loại bỏ cái sai, dần dần xác lập cái đúng”.

Từ những cơ sở trên, chúng tôi đề xuất chủ đề dạy học: định hướng, hình thành và phát triển ý thức tự chủ, tự chịu trách nhiệm của người học qua một số tác phẩm văn học trong chương trình Ngữ văn cấp THPT.

Để tổ chức hoạt động dạy học ở lớp diễn ra đúng thời lượng và phát huy được năng lực và phẩm chất của từng người học, giáo viên xây dựng chùm câu hỏi có tính chất định hướng cho học sinh chuẩn bị bài ở nhà, tìm các kênh, nguồn học liệu liên quan đến bài học để tiếp cận chủ đề học tập. Chùm câu hỏi giáo viên giao cho các em chuẩn bị bài có thể gồm hệ thống câu hỏi sau:

Câu hỏi 1.

Qua Từ điển tiếng Việt, sách giáo khoa và các tài liệu tìm đọc, em hãy trình bày ngắn gọn hiểu biết của bản thân thế nào là ý thức tự chủ, tự chịu trách nhiệm?

Câu hỏi 2.

Tìm những tác phẩm văn học đã học mang thông điệp có ý nghĩa giáo dục con người về ý thức tự chủ, tự chịu trách nhiệm?

Câu hỏi 3.

Lập sơ đồ tư duy để phân tích những biểu hiện sinh động, hấp dẫn của thông điệp về ý thức tự chủ, tự chịu trách nhiệm qua những tác phẩm văn học đã học.

Câu 4.

Bình luận, đánh giá khái quát và rút ra bài học nhận thức, hành động về nội dung đã phân tích.

 

  • Định hướng đọc hiểu

 

  • Ý thức, tinh thần tự chủ, tự chịu trách nhiệm 

Ý thức tự chủ, tự chịu trách nhiệm được hiểu là bản thân tự điều hành, quản lí mọi công việc của mình; tự làm chủ tình cảm, hành động, không để bị hoàn cảnh chi phối. Tự chịu trách nhiệm là ý thức được vai trò, vị trí của bản thân, tự nhận trách nhiệm không cần ai nhắc nhớ, đốc thúc.

Ở bộ môn Ngữ văn cấp THPT có nhiều tác phẩm mang thông điệp, ý nghĩa giáo dục ý thức tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Chúng ta bước đầu có thể kể tới một số tác phẩm như: Tấm Cám, truyền thuyết An Dương Vương và Mỵ Châu – Trọng Thủy, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, Thái sư Trần Thủ Độ, Chí Phèo…

  • Ý thức tự chủ tự chịu trách nhiệm qua một số truyện dân gian tiêu biểu

Nói đến ý thức tự chủ, tự chịu trách nhiệm được các tác giả gửi gắm trong một số truyện dân gian, người đọc có thể kể đến truyện cổ tích Tấm Cám và truyền thuyết An Dương Vương và Mỵ Châu – Trọng Thủy. Trong quá trình tổ chức đọc hiểu, giáo viên cần định hướng người học phân tích các lớp ý nghĩa của truyện theo đặc trưng thi pháp và chức năng của thể loại. Trong các truyện dân gian, nhân vật của truyện là nhân vật chức năng. Nhân vật người kể chuyện thuộc loại hình người kể chuyện toàn tri, người biết câu chuyện từ trước và kể lại với mục đích thể hiện triết lí, quan niệm sống của người bình dân.

Quá trình đọc hiểu truyện cổ tích Tấm Cám, cần có những câu hỏi định hướng như: Tại sao Bụt chỉ phù trợ Tấm khi cô còn bé, lúc cô trở thành hoàng hậu thì Bụt không còn giúp đỡ cô nữa? Tại sao cô Tấm hóa kiếp nhiều lần, tìm cách để được sống lại? Ý nghĩa nghệ thuật của những chi tiết trên là gì? Phải chăng, Bụt chỉ giúp đỡ Tấm khi cô còn yếu đuối, thơ bé còn khi đã trưởng thành, đã thành hoàng hậu thì mọi chuyện cô phải tự quyết định lấy. Bụt không làm thay cho cô nữa. Và việc Tấm lộn từ kiếp này sang kiếp khác nhiều lần để được sống chốn nhân gian mang một triết lí về hạnh phúc ở đời theo quan niệm dân gian. Rằng, chẳng có cuộc sống nào đáng sống bằng cuộc sống chốn dương gian. Chẳng có hạnh phúc nào tròn đầy, tự đến mà chúng ta không phải đấu tranh, bảo vệ và cả giành dật một cách chính đáng. Con người phải tự làm chủ số phận và tự chịu trách nhiệm về mọi việc đã làm chính là thông điệp mà tác giả dân gian muốn gửi tới mọi người.

Lí giải vấn đề dưới ánh sáng thi pháp truyện dân gian và chức năng của thể loại, chúng ta cũng dễ có câu trả lời thỏa đáng cho những câu hỏi như: Tại sao thần Kim Quy giúp An Dương Vương xây thành chế nõ nhưng khi bị Triệu Đà cướp ngôi lại không ra tay giúp một lần nữa? Tại sao nàng Mỵ Châu phải chết còn nhà vua lại cầm sừng tê bảy tấc rẽ nước xuống long cung?

Cắt nghĩa theo lô gích lịch sử, chúng ta nhận ra, dù rất yêu quý vị vua anh hùng của mình nhưng tác giả dân gian phải tôn trọng sự thật lịch sử là An Dương Vương đã để mất nước vào tay Triệu Đà. Sự thật ấy không thể nói khác. Tuy nhiên, truyền thuyết là một thể loại văn học có tính hư cấu, tác giả dân gian đã hư cấu rất nhiều chi tiết, tình tiết trong tác phẩm. Nếu so với sự thật lịch sử, với những bằng chứng lịch sử chúng ta dễ nhận ra điều đó. Tuy nhiên, trên cái nền của lịch sử, cái lõi sự thật lịch sử, tác giả dân gian không dừng lại việc cắt nghĩa lịch sử, “phục dựng lịch sử” mà qua những chi tiết, tình tiết trong tác phẩm, người xưa còn muốn gửi tới muôn đời một bài học dựng nước và giữ nước, về mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng. Ở đó, những sai lầm của nhà vua do thiếu cảnh giác, chủ quan, kiêu ngạo thì nhà vua phải tự nhận lấy trách nhiệm. Thất bại của nhà vua không còn là câu chuyện thành bại của một cá nhân mà ảnh hưởng sâu sắc đến cả một dân tộc. Vì thế, đến bước đường cùng nhà vua tỉnh ngộ, phải tự tay chặt đầu con gái mình. Khi vị trí của cá nhân trong xã hội càng cao thì trách nhiệm đối với cộng đồng càng lớn. Bởi thế mà khi vua cha vung gươm chém đầu Mỵ Châu, nàng đã không xin tha chết chỉ xin được giải oan ở kiếp sau. Như vậy câu chuyện công – tội, câu chuyện về mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng được tác giả dân gian soi chiếu một cách công bằng.

Nhưng công lao dựng thành giữ nước của vua An Dương Vương là một sự thật không thể phủ nhận. An Dương Vương là một anh hùng dân tộc. Tác giả không miêu tả cái chết của đức vua mà đã bất tử hóa cuộc đời ông bằng chi tiết cầm sừng tê bảy tấc rẽ nước xuống long cung. Cũng như Thánh Gióng, Hai Bà Trưng cũng đã bay về trời…Theo quan niệm của nhân dân, những anh hùng dân tộc sẽ trở thành  bất tử.

 

  • Ý thức tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong thể loại văn bình sử

Trong các bài văn bình sử ở chương trình Ngữ văn THPT, ý thức tự chủ, tự chịu trách nhiệm cũng đã được sử gia gửi gắm một cách kín đáo và sâu sắc. Qua các nhân vật lịch sử như Hưng Đạo Đại Vương, Trần Thủ Độ...Ngô Sĩ Liên đã khắc họa một cách sinh động tài năng và nhân cách vĩ đại của các bậc lương tướng tôi hiền: luôn tự chủ, tự quyết, tự chịu trách nhiệm; tất cả vì sự nghiệp chung của dân tộc của đất nước, không để tình riêng lấn át việc công, luôn giữ nghiêm kĩ cương phép nước.

Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn là một con người tài đức vẹn toàn, nhân cách vĩ đại. Ý thức tự chủ ở ông luôn đi cùng với ý thức tự chịu trách nhiệm. Mọi quyết sách, tư tưởng của ông luôn sáng ngời tư tưởng vì dân vì nước, luôn đặt nghĩa vụ, bổn phận đối với quốc gia, dân tộc trên lợi ích cá nhân. Ông có thể hi sinh quyền lợi cá nhân và gia tộc để hoàn thành sứ mệnh của bậc tôi trung phò vua giúp đời, làm nên đại nghiệp lẫy lừng. Viết về ông, tác giả Ngô Sĩ Liên đã để lại cho muôn đời sau những câu chuyện xúc động, để lại những bài học đạo lí, bài học làm người vô cùng quý báu.

Ông là vị tướng tài năng, mưu lược, trung quân ái quốc và đặc biệt là yêu thương dân, lo cho dân, lấy dân làm gốc của xã tắc. Qua câu chuyện người cha dặn lúc lâm chung : “Con mà không vì cha lấy được thiên hạ thì cha dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được”. Lời trăng trối ấy ông để trong lòng chứ “không cho là phải”. Cách hành xử của ông cho ta thấy Hưng Đạo Đại Vương tận trung với triều đình, tận tâm vì sơn hà xã tắc, không mảy may tư lợi. Ông là người có tình cảm chân thành, nồng nhiệt, thẳng thắn và rất nghiêm trong giáo dục con cái. Cuộc đời ông là tấm gương sáng về đạo làm người: dũng cảm, tài năng, mưu lược, đức độ. Người đời sau gọi ông là Đức Thánh Trần với niềm cảm phục và biết ơn.

Nếu như vị trí của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã được khẳng định và bất tử trong lòng nhân dân với nét phẩm chất nổi bật đã phân tích thì cuộc đời và tư tưởng của Trần Thủ Độ lại trải qua nhiều thăng trầm trong lịch sử. Nhưng sau lớp bụi thời gian, công – tội của bậc hiền thần đã dần dần được làm sáng tỏ. Điều không ai có thể phủ nhận ở nhân vật lịch sử này là ý thức dám làm chịu trách nhiệm, có tầm nhìn xa trông rộng. Nhân cách chính trực, chí công vô tư, biết lắng nghe và khuyến khích cấp dưới giữ vững phép nước, đó là những gì mà người đọc thấy được ở nhân vật lịch sử Thái sư Trần Thủ Độ.

Trần Thủ Độ (1194-1264), trong quan hệ gia tộc là chú họ của vua Trần Thái Tông, ông giữ chức Thái sư, là nhân vật lịch sử khá đặc biệt, từng có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau về ông. Xét một cách khách quan, chúng ta thấy sự chuyển đổi triều đại Lí-Trần là một tất yếu lịch sử mà Trần Thủ Độ là người thúc đẩy quá trình đó một cách nhanh, khéo và không kém phần quyết liệt. Về phía nhà Trần, Trần Thủ Độ là một trong những người có công đầu trong việc khai sáng và xây dựng. Ông hết lòng hết sức tận tụy trung thành giúp các vua Trần giữ gìn cơ nghiệp, bảo vệ đất nước, chống ngoại xâm. Khi quân Mông-Nguyên tràn qua biên giới, vua Trần lo lắng, muốn nghe kế nghị hòa của Trần Nhật Hiệu, Trần Thủ Độ nói: Đầu tôi chưa rơi, xin bệ hạ đừng lo! Ông là vị quan đầu triều nghiêm minh và đầy bản lĩnh.

Để khắc họa nhân vật Trần Thủ Độ, tác giả lựa chọn bốn câu chuyện có thật, kể lại một cách ngắn gọn, đặc sắc; qua đó làm nổi bật bốn khía cạnh khác nhau trong tính cách của ông. Đối với người đã tố cáo tội lỗi của mình với vua, bị đối chất ngay trước mặt, ba mặt một lời, Trần Thủ Độ không xử theo cách thông thường (chối cãi hay biện minh hay trừng trị kẻ hặc tội) mà ông dứt khoát công nhận, khẳng định sự thật bằng câu nói: Đúng như người ấy nói và có hành động đặc biệt: khen thưởng cho anh ta! Đây là một tình huống rất kịch tính. Cách xử lí ấy cho thấy bản lĩnh và tính trung thực, thẳng thắn, dám làm dám chịu của vị Thái sư đầu triều. Cách xử sự đó khiến nhà vua ngạc nhiên và khâm phục, người hặc tội Thái sư vừa sợ vừa khâm phục. Vì cả hai có khi chưa hiểu hết tấm lòng và ý chí của Thái sư. Trong tình thế vua Trần còn nhỏ tuổi, triều đình mới lập ông không thể không chuyên quyền nhưng ông tự biết mình ít học, chỉ giỏi võ biền, mưu mô quyền biến, chứ không hề có chí làm vua chỉ có lòng hết sức phò vua mà thôi. Cho nên cách hành xử của Trần Thủ Độ vừa có uy vừa có ân. Nó có tác dụng khích lệ cấp dưới trung thực, dũng cảm vạch tội lỗi sai lầm của kẻ khác, dù có thể là cấp trên của mình.

Ở câu chuyện thứ hai, Linh Từ Quốc Mẫu là vợ Thái sư, có lần ngồi kiệu đi qua chỗ thềm cấm, người quân hiệu ngăn lại không cho đi. Về nhà,  bà khóc bảo Thủ Độ: Mụ này làm vợ ông mà bọn quân hiệu khinh nhờn như thế. Trước yêu cầu và lời nói khích của công chúa Linh Từ Quốc mẫu Trần Thị Dung, Thái Sư cả giận sai đi bắt ngay tên lính xấc xáo phạm thượng. Chi tiết ấy làm người đọc sẽ nghĩ là kẻ phạm thượng sẽ bị trị tội. Vì đây là cách xử lí thông thường của các gia đình đại quan. Nhưng sau khi nghe trình bày sự thật, Thủ Độ đã khen ngợi anh lính và thưởng vàng lụa cho anh ta. Cách hành xử của Thái sư khiến bà vợ hài lòng và không thể tiếp tục lợi dụng địa vị của chồng để làm khó kẻ dưới. Mặt khác, chứng tỏ ông là người chí công vô tư, thực hiện đúng luật pháp, không thiên vị người thân, khuyến khích mọi người giữ nghiêm phép nước.

Cũng là câu chuyện liên quan đến gia nhân, cách hành xử trong mối quan hệ riêng – chung, ông cũng đã có những quyết sách rõ ràng, phân minh để giữ nghiêm phép công. Đó là câu chuyện có người lợi dụng quen biết để chạy chọt, nhờ vả. Điều thú vị là Trần Thủ Độ đã nhận lời và cẩn thận ghi tên và địa chỉ của người xin. Đến khi xét duyệt, ông gọi người ấy đến làm mọi người tưởng anh ta được chức câu đương thực. Hai phần ba câu nói của Thái sư vẫn cho thấy anh ta sẽ được làm câu đương và còn có thể được ưu tiên nữa: Ngươi vì có công chúa xin cho được làm câu đương, không ví như người câu đương khác được, phải chặt một ngón chân để phân biệt. Tên kia kêu van xin thôi, hồi lâu mới tha cho; từ đấy không ai dám đến nhà thăm riêng.. Cách xử kí là lời cảnh cáo răn đe kẻ cậy thân tín dựa dẫm, chạy chức chạy quyền. Mặt khác, qua câu chuyện, Trần Thủ Độ gián tiếp răn vợ không được dựa quyền thế để thỏa mãn tư ân và chấm dứt tệ nạn này. Một lần nữa việc làm của ông chứng tỏ sự chí công, vô tư, giữ công bằng của luật pháp.

Trong bốn câu chuyện kể về Thái sư Trần Thủ Độ, có ba mẫu chuyện liên quan đến cách ứng xử của vị quan đầu triều đối với những người trong gia tộc, thân tín. Một lần, Thái Tông muốn cho người anh của Thủ Độ là An Quốc làm tướng. Thủ Độ nói: An Quốc là anh thần, nếu là người hiền thì thần xin nghỉ việc, còn như cho thần hiền hơn An Quốc thì không nên cử An Quốc. Nếu anh em cùng làm tướng thì việc trong triều sẽ ra sao? Vua bèn thôi.

Lẽ thường, một người làm quan cả họ được nhờ, huống chi Thủ Độ không đề xuất mà là nhà vua. Việc này, ông chỉ đồng ý là xong. Là có thêm anh em, vây cánh trong triều. Thế nhưng, ông thẳng thắn nêu quan điểm của mình. Không phải ông không quý mến, không lo lắng cho người ruột thịt mà trước tiên, ông đặt việc quốc gia là trên hết, trước hết. Một câu chuyện nữa làm ta hiểu thêm về ông về bản lĩnh “chiến thắng chính mình” của một nhân vật lịch sử đặc biệt dưới triều Trần. Tác giả Ngô Sĩ Liên nhằm mục đích “ngụ bao biếm, biện thiện ác”, khuyến thiện trừng ác một cách khéo léo, tinh tế. Đồng thời thể hiện niềm tự hào dân tộc đối với tiền nhân và hướng người đời sau tin theo, học tập tiền nhân.

Qua một số bài bình sử trích Đại Việt sử kí toàn thư, giáo viên định hướng cho học sinh thấy được những phẩm chất cao quý của con người Việt Nam: yêu nước thương nòi, đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, đặt quyền lợi của dân tộc, của đất nước lên trên hết; đấy là tinh thần giữ đúng kĩ cương phép nước, dám làm dám chịu trách nhiệm, luôn tự chủ được bản thân trước mọi tình huống. Từ các bài bình sử, ta thêm cảm phục và tự hào về  tài năng và đức độ của các sử gia Việt Nam thời trung đại. Từ đây càng tự hào thêm về con người Việt Nam, càng quý trọng những giá trị văn hóa mà ông cha đã để lại.

  • Ý thức tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong truyện Chí Phèo

Nếu như văn học trung đại có tính giáo huấn, mệnh đề “Thi dĩ ngôn chí, văn dĩ tải đạo” đã nói lên đặc điểm nổi bật của văn học thời kì này thì các tác phẩm văn học hiện đại lại có những đặc điểm riêng của một loại hình văn học mới.

Mỗi truyện ngắn là một chỉnh thể nghệ thuật có nhiều khoảng trống, khoảng trắng. Mỗi lần đọc, mỗi đối tượng tiếp nhận có thể tìm thấy và giải mã được những thông điệp nghệ thuật tương ứng với tầm đón đợi. Những tác phẩm xuất sắc luôn tiềm ẩn nhiều chủ đề, hình tượng nghệ thuật mang tính đa nghĩa và có sức tái sinh đặc biệt. Trong đó truyện Chí Phèo của nhà văn Nam Cao là một truyện ngắn hiện đại được xếp vào hàng kiệt tác. Thông điệp về ý thức tự chủ tự chịu trách nhiệm đã được nhà văn gửi gắm một cách sâu kín. Thông qua cuộc đời bị tha hóa, bị lưu manh hóa; qua số phận bị đánh cắp linh hồn, nhà văn đã thể hiện nỗi đau bi kịch làm người của con người sống trong một xã hội tàn bạo, một môi trường sống phi nhân tính, thù địch với con người. Cuộc đời của Chí Phèo là một cuộc tìm kiếm bản thể đầy đau đớn. Nhân vật rơi vào khủng hoảng, bế tắc, đã mắc vô số sai lầm… Tội ác của bọn cường hào địa chủ, định kiến xã hội cùng với những hành động lưu manh, côn đồ của Chí Phèo đã đẩy nhân vật vào tình cảnh cùng đường tuyệt lộ. 

Nói đến thông điệp về ý thức tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong Chí Phèo, người đọc có thể thông qua việc lí giải một số chi tiết để thấy được. Trong đó, hành động  Chí Phèo giết chết Bá Kiến rồi tự kết liễu đời mình phản ánh sự thức tỉnh về ý thức làm người, sự vỡ mộng về giấc mơ hoàn lương, ở đó sáng lên ý thức tự chủ, tự chịu trách nhiệm của nhân vật.

Bá Kiến có tội ác ghê rợn chính là hắn đã cố tình đẩy Chí Phèo vào con đường lưu manh, kích động phần thú tính, sự manh động của y để trục lợi. Cả cuộc đời Chí Phèo là một cuộc kiếm câu trả kời cho những câu hỏi: ta là ai? Ta từ đâu tới? Ta tồn tại hay không tồn tại? Và mỗi lần cố công kiếm tìm là một lần hắn bị Bá Kiến đánh lạc hướng, dẫn hắn đi sâu vào vòng tội lỗi. Chúng ta có thể kiểm chứng điều đó qua rất nhiều chi tiết. Đoạn văn sau phần nào góp phần lí giải cho bi kịch của Chí Phèo: “Có lẽ hắn cũng không biết rằng hắn là con quỷ dữ của làng Vũ Ðại, để tác quái cho bao nhiêu dân làng. Hắn biết đâu hắn đã phá bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người lương thiện. Hắn đâu biết vì hắn làm tất cả những việc ấy trong khi người hắn say; hắn say thì hắn làm bất cứ cái gì người ta sai hắn làm. Tất cả dân làng đều sợ hắn và tránh mặt hắn mỗi khi hắn qua”.

Quá trình thức tỉnh của Chí Phèo gắn với ý thức tự chủ, tự chịu trách nhiệm của nhấn vật. Vì đâu hắn bị tha hóa? Vì đâu hắn bị cự tuyệt quyền làm người? Trong vô số nguyên nhân có nguyên nhân chủ quan, trong vô vàn nguyên nhân có nguyên nhân sâu xa từ những việc làm của Chí Phèo. Hắn là ai? Từ lúc sinh ra cho đến khi trưởng thành làm anh canh điền khỏe mạnh ai đã nuôi hắn thành người? Thế mà, sau khi bị Bá Kiến ngấm ngầm đẩy đi tù, hắn trở về thành một kẻ khác lạ và hành động côn đồ với chính những người trước đây đã từng sống, sẻ chia để hắn thành người.

Chính ý thức tự chịu trách nhiệm đã giúp Chí Phèo tự giải thoát cho bản thân bằng hành động giết kẻ thù rồi tự kết liễu đời mình. Chính sự thức tỉnh về nhân tính đã đưa nhân vật đến quyết định một lần đối mặt với sự thật, dù sự thật vô cùng đau đớn. Ý thức được trách nhiệm, tội lỗi của mình nên nhân vật đã không chạy trốn khỏi làng như Năm Thọ, Binh Chức ngày trước đã làm. Trong hoàn cảnh ấy, Chí Phèo cũng như nhân vật Trương Ba trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của nhà văn Lưu Quang Vũ: Chết để được tái sinh, để được làm người! Sự lựa chọn ấy đã đưa Chí Phèo trở thành nhân vật bất tử trong lòng độc giả.

III.           Kết luận

Dạy học theo chủ đề là một trong những hoạt động đổi mới dạy học ở nhà trường phổ thông hiện nay. Thông qua chủ đề, chúng tôi định hướng hình thành những phẩm chất, năng lực của học sinh như:

Về phẩm chất:

Sống tự chủ: Trung thực, tự trọng, chủ động, vượt lên hoàn cảnh, tự hoàn thiện bản thân.

 Sống trách nhiệm:Tự nguyện, giữ gìn những chuẩn mực đạo đức, quy tắc ứng xử.

Về năng lực:

Năng lực tự học: Thông qua bài học, học sinh xác định được mục tiêu học tập;  biết lập kế hoạch và thực hiện cách học;  tự đánh giá và điều chỉnh việc học.

 Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Người học biết cách phát hiện và làm rõ vấn đề,  đề xuất, lựa chọn giải pháp, thực hiện và đánh giá giải pháp giải quyết vấn đề, nhận ra ý tưởng mới, hình thành và triển khai ý tưởng mới, có tư duy độc lập.

Năng lực hợp tác: Thông qua bài học, học sinh xác định mục đích và phương thức hợp tác; xác định trách nhiệm và hoạt động của bản thân; xác định nhu cầu và khả năng của người hợp tác;  tổ chức và thuyết phục người khác; đánh giá hoạt động hợp tác.

 Năng lực nhận diện, phân tích, khái quát vấn đề. Học tập, tự học với sự hỗ trợ của ICT. Giao tiếp, hòa nhập, hợp tác qua môi  trường ICT.

Qua tổ chức dạy học, đề tài định hướng người học năng lực đọc liên văn bản. Từ đó biết tổng hợp, khái quát được các giá trị thẩm mỹ, giá trị nhận thức và giá trị giáo dục vừa giàu tính nhân bản vừa giàu tính nhân văn từ các tác phẩm văn học tiêu biểu để phát triển các phẩm chất và năng lực cần có./.

     .Phan Quốc Thanh

Tài liệu tham khảo:

  • Từ điển Tiếng Việt – Hoàng Phê (chủ biên), Nxb Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học, Hà Nội – Đà Nẵng 1997).
  • Sách Ngữ văn lớp 10, tập 1&tập 2, Nxb GD, H.2006;
  • Sách Ngữ văn lớp 11, tập 1&tập 2, Nxb GD, H.2006;
  • Trần Đình Sử - Đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn – Trandinhsu.Wordpress.com.

 

 

 

 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây